Xác định tư cách Thành viên Hội đồng quản trị trong thực tế: Vẫn còn nhiều sai sót

Tài nguyên
Xác định tư cách Thành viên Hội đồng quản trị trong thực tế: Vẫn còn nhiều sai sót
Ngày đăng: 24/11/2023

    Với đặc thù số lượng cổ đông lớn và không bị giới hạn, đối với công ty cổ phần, Hội đồng quản trị đóng vai trò là cơ quan quản lý đối với hoạt động của công ty. Hội đồng quản trị bao gồm các thành viên do chính Đại hội đồng cổ đông bầu ra, thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua Nghị quyết Hội đồng quản trị, được biểu quyết theo nguyên tắc đa số, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định tỷ lệ khác cao hơn. Do đó, trong một số trường hợp, việc xác định một cá nhân có tư cách Thành viên Hội đồng quản trị tại thời điểm biểu quyết hay không có ý nghĩa quyết định đến giá trị pháp lý của Nghị quyết Hội đồng quản trị. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đưa ra một số phân tích để làm rõ về tư cách Thành viên Hội đồng quản trị, dựa trên các vụ việc thực tế trong thời gian vừa qua.

    Nhóm cổ đông yêu cầu thay đổi Thành viên Hội đồng quản trị

    Ngày 30/6/2023, một nhóm cổ đông của Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (“Eximbank”) do Ông Trần Hoàng Ninh đại diện đã có đơn rút đề cử Thành viên Hội đồng quản trị đối với Bà Đỗ Hà Phương (“Bà Phương”). Động thái này được đưa ra ngay sau khi Bà Phương được Hội đồng quản trị Eximbank bầu vào vị trí Chủ tịch Hội đồng quản trị theo Nghị quyết Hội đồng quản trị số 216/2023/EIB/NQ-HĐQT ngày 28/6/2023[1]. Đáng chú ý, Bà Phương lại chính là người đã được nhóm cổ đông do Ông Trần Hoàng Ninh đại diện đề cử vào vị trí Thành viên Hội đồng quản trị trước đó không lâu. Lý do được nhóm cổ đông này đưa ra là vì Bà Phương đã không thực hiện nghiêm túc chức vụ đang đảm nhiệm, gây xáo trộn nghiêm trọng trong hoạt động của Eximbank. Không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cũng như ý chí phát triển ngân hàng một cách minh bạch và ổn định của các cổ đông. Theo đó, nhóm cổ đông này đã đề nghị Eximbank chấm dứt các uỷ quyền, đề cử và đề nghị rút Bà Phương khỏi Hội đồng quản trị Eximbank. Đồng thời, yêu cầu Eximbank thực hiện các thủ tục liên quan đến việc bãi nhiệm Bà Phương theo quy định[2].

    Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, đây chỉ là quyền đề cử của cổ đông hoặc nhóm cổ đông này, việc người được đề cử có thể trở thành Thành viên Hội đồng quản trị hay không lại phụ thuộc vào quyết định của Đại hội đồng cổ đông. Theo đó, Đại hội đồng cổ đông có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thành viên Hội đồng quản trị. Hay nói cách khác, sau khi được đề cử, việc bầu, miễn nhiệm hay bãi nhiệm một cá nhân khỏi tư cách Thành viên Hội đồng quản trị hoàn toàn thuộc về thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.

    Trong vụ việc của Eximbank, có thể giữa nhóm cổ đông và Bà Phương đã tồn tại thỏa thuận ủy quyền để Bà Phương tham gia vào Hội đồng quản trị Eximbank nhằm mục đích hướng đến lợi ích cho nhóm cổ đông này. Khi thỏa thuận này không được thực hiện đúng bởi Bà Phương, nhóm cổ đông này đã có những động thái như trên. Tuy nhiên, giả sử có tồn tại thỏa thuận nêu trên, đây cũng chỉ là thỏa thuận nội bộ giữa nhóm cổ đông và Bà Phương. Việc miễn nhiệm, bãi nhiệm bà Phương khỏi vị trí Chủ tịch Hội đồng quản trị, hay thậm chí là Thành viên Hội đồng quản trị đều không phụ thuộc vào thỏa thuận này. Thay vào đó, việc miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị, trong khi đó, việc miễn nhiệm, bãi nhiệm Thành viên Hội đồng quản trị lại thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, ngoài Luật Doanh nghiệp, hoạt động của Eximbank còn phải tuân thủ quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Cụ thể, trường hợp cổ đông, nhóm cổ đông do Ông Trần Hoàng Ninh đại diện là tổ chức, và cổ đông, nhóm cổ đông này đã ủy quyền cho Bà Phương làm người đại diện phần vốn góp tại Eximbank, tư cách Thành viên Hội đồng quản trị của Bà Phương có thể đương nhiên bị mất nếu các cổ đông, nhóm cổ đông này có quyết định thay đổi người đại diện phần vốn góp tại Eximbank[3]. Nếu không thuộc trường hợp trên, đồng thời, hành vi của Bà Phương lại không thuộc các trường hợp luật định, gần như không có cơ sở để Đại hội đồng cổ đông miễn nhiệm, bãi nhiệm Bà Phương khỏi vị trí Thành viên Hội đồng quản trị.

     

    Nhập nhằng trong việc xác định tư cách Thành viên Hội đồng quản trị

    Ngày 27/7/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 01/2018/QĐKDTM-PT để giải quyết yêu cầu hủy bỏ Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông[4]. Trước đó, Bà Lê Thị Hương G (“Bà G”) là Thành viên Hội đồng quản trị của Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Vật tư Thiết bị Đ (“Công ty Đ”) đã nộp Đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội hủy hai Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông Công ty Đ, được ban hành ngày 04/4/2017 và ngày 05/5/2017. Trong số các lý do được Bà G đưa ra, Bà G cho rằng Ông Nguyễn Bảo Đ (“Ông Đ”), với tư cách là Chủ tịch Hội đồng quản trị đã không tuân thủ quy định về triệu tập cuộc họp Hội đồng quản trị trước khi ra quyết định triệu tập cuộc họp Đại hội đồng cổ đông.

    Quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận các yêu cầu của Bà G. Không đồng ý với quyết định này, Bà G có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa quyết định theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà, hủy hai Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông Công ty Đ. Quyết định số 01/2018/QĐKDTM-PT của Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục không chấp nhận các yêu cầu của Bà G. Trong phần nhận định của Tòa án cấp phúc thẩm có nội dung rất đáng chú ý, đại ý như sau: Hội đồng quản trị Công ty Đ năm 2016- 2020 gồm có 05 thành viên gồm Ông Đ, Ông Nguyễn Kim P (“Ông P”), Ông Trần Anh T (“Ông T”), Ông Nguyễn Hoàng H (“Ông H”) và Bà G. Trước thời điểm tiến hành Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 04/4/2017, Ông H đã chuyển nhượng cổ phần cho người khác; Ông Đ, Ông P và Ông T là những người đại diện phần vốn Nhà nước tại Công ty Đ nhưng sau khi Nhà nước thoái 100% vốn tại Công ty Đ, Ông T, Ông H và Ông P có đơn xin từ chức nên đương nhiên các ông này không còn là Thành viên Hội đồng quản trị (Quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 156 Luật Doanh nghiệp năm 2014) mà không cần phải họp Đại hội đồng cổ đông để miễn nhiệm chức danh Thành viên Hội đồng quản trị của các ông này. Đối với trường hợp của Ông Đ, mặc dù không còn là người đại diện phần vốn của Nhà nước tại Công ty Đ nhưng Ông Đ vẫn đang là cổ đông sở hữu 0,6% tỷ lệ cổ phần nên Ông Đ không mất tư cách thành viên Hội đồng quản trị và Chủ tịch Hội đồng quản trị của Công ty Đ.

    Luật Doanh nghiệp 2014 lẫn 2020 đều quy định việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thành viên Hội đồng quản trị thuộc về thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Quy định này tưởng chừng đã rất rõ ràng và đơn giản để vận dụng. Nhưng thực tế một số doanh nghiệp, thậm chí là cơ quan tài phán vẫn còn nhầm lẫn trong việc áp dụng quy định này. Đơn cử như vụ việc nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm đã không xác định đúng thời điểm chấm dứt tư cách Thành viên Hội đồng quản trị, đồng thời, không tách bạch giữa tư cách Thành viên Hội đồng quản trị với người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp, thậm chí với tư cách cổ đông công ty. Cụ thể:

    Thứ nhất, người đại diện theo ủy quyền đối với phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp là cá nhân được ủy quyền bằng văn bản nhân danh chủ sở hữu phần vốn góp/cổ phần (ở đây là Nhà nước) thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Trong khi đó, như đã đề cập ở phần trên, nếu cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn theo quy định tại Điều lệ công ty, cổ đông này có quyền đề cử người vào Hội đồng quản trị. Người được đề cử không nhất thiết phải là người đại diện theo ủy quyền nêu trên. Trên thực tế, hai vị trí này thường được các cổ đông là tổ chức trao cho một hoặc nhiều cá nhân cùng kiêm nhiệm (phụ thuộc vào tỷ lệ sở hữu cổ phần tại doanh nghiệp), bởi lúc này việc quản lý của cổ đông là tổ chức đối với những cá nhân kiêm nhiệm sẽ thuận tiện hơn. Đồng thời, người được đề cử vào vị trí Thành viên Hội đồng quản trị nếu được bầu cũng sẽ chú trọng đến lợi ích của cổ đông là tổ chức hơn, bởi họ còn đang đứng ở vị trí người đại diện theo ủy quyền. Chính vì thông lệ này đã dẫn đến sự nhập nhằng trong việc xác định tư cách Thành viên Hội đồng quản trị và người đại diện theo ủy quyền. Cần lưu ý rằng, giả sử một Thành viên Hội đồng quản trị đang đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của một cổ đông tổ chức, nếu cổ đông này rút/chuyển nhượng toàn bộ vốn tại công ty, tư cách Thành viên Hội đồng quản trị của cá nhân trên vẫn không thay đổi, trừ trường hợp công ty được xét đến là tổ chức tín dụng như đã đề cập ở trên

    Thứ hai, tương tự đối với trường hợp cổ đông công ty là cá nhân đồng thời giữ vị trí Thành viên Hội đồng quản trị công ty. Trường hợp này, nếu cổ đông đó rút/chuyển nhượng toàn bộ vốn tại công ty, tư cách Thành viên Hội đồng quản trị của cổ đông trên không đương nhiên bị mất đi.

    Thứ ba, trong vụ việc nêu trên, Tòa án đã dựa vào quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 156 Luật Doanh nghiệp năm 2014 để bổ sung cho nhận định tư cách Thành viên Hội đồng quản trị sẽ chấm dứt nếu Thành viên đó có đơn từ chức. Nhận định này dường như không bảo đảm cơ sở pháp lý vững chắc, bởi như đã nêu, thẩm quyền miễn nhiệm Thành viên Hội đồng quản trị vẫn thuộc về Đại hội đồng cổ đông, do đó, việc Thành viên Hội đồng quản trị có đơn từ chức chỉ là điều kiện cần, trước khi Đại hội đồng cổ đông tiến hành họp và ra quyết định miễn nhiệm. Đáng lưu ý, Luật Doanh nghiệp 2020 đã điều chỉnh quy định này theo hướng rõ ràng hơn, bằng việc yêu cầu phải có sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông đối với đơn từ chức. Tuy nhiên, theo chúng tôi, về bản chất, quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 cũng đã rõ ràng về thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông.

     

    Tóm lại, qua các vụ việc được chúng tôi viện dẫn ở trên, có thể thấy, việc nhầm lẫn khi xác định tư cách Thành viên Hội đồng quản trị không chỉ là vấn đề xuất hiện thường xuyên tại các doanh nghiệp, đôi khi vấn đề này còn xảy ra đối với các cơ quan tài phán trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Việc xác định sai tư cách Thành viên Hội đồng quản trị không chỉ ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của Nghị quyết Hội đồng quản trị như đã đề cập, mà còn ảnh hưởng đến quyết định và hành động của các bên có liên quan trong doanh nghiệp, cũng như phán quyết của cơ quan tài phán. Do đó, để bảo đảm hoạt động quản trị doanh nghiệp được hiệu quả thì những vấn đề liên quan đến tư cách Thành viên Hội đồng quản trị là điều mà doanh nghiệp cần hết sức lưu tâm. Đặc biệt, đối với các cổ đông, nhóm cổ đông đủ điều kiện đề cử người vào Hội đồng quản trị, cần cân nhắc một cách cẩn trọng khi lựa chọn cá nhân để đề cử.