Vì sao Ngân hàng Nhà nước muốn nâng “room ngoại” cho ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc lên tới 49%?

Tài nguyên
Vì sao Ngân hàng Nhà nước muốn nâng “room ngoại” cho ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc lên tới 49%?
Ngày đăng: 26/07/2023

     

    Thời gian gần đây, thông tin về việc ba ngân hàng được “mua lại 0 đồng” bao gồm Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Xây dựng Việt Nam (CB Bank), Ngân hàng Thương mại TNHH MTV Đại Dương (“OceanBank”), Ngân hàng TM TNHH MTV Dầu Khí Toàn Cầu (GP Bank) và một ngân hàng thuộc diện kiểm soát đặc biệt khác là Ngân hàng TMCP Đông Á (DongA Bank) đang nằm trong kế hoạch phải chuyển giao bắt buộc cho bốn ngân hàng thương mại khác đang được dư luận đặc biệt quan tâm. Kế hoạch này nằm trong đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 – 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ thông qua ngày 08/6/2022 (“Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng”).

    Nhằm tạo hành lang pháp lý cho hoạt động chuyển giao bắt buộc, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật bổ sung, điều chỉnh đối với hoạt động này, gần đây nhất, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (“Ngân hàng Nhà nước”) đã có tờ trình gửi Chính phủ về việc ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 01/2014/NĐ-CP ngày 03/01/2014 của Chính phủ về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của tổ chức tín dụng Việt Nam (“Nghị định 01/2014/NĐ-CP”). Trong đó, nổi bật là đề xuất nâng tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc vượt 30% nhưng không vượt quá 49% vốn điều lệ của ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc (không bao gồm các ngân hàng thương mại do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ).

    Vậy nguyên nhân nào dẫn đến việc Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng “room ngoại” đối với các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc?

     

    1. Hỗ trợ về nguồn vốn cho ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc

    Mặc dù khi tham gia vào kế hoạch nhận chuyển giao bắt buộc các ngân hàng yếu kém, các ngân hàng nhận chuyển giao có thể được hưởng những lợi ích nhất định, đơn cử như cơ hội mở rộng mạng lưới thị trường, cơ hội tiếp cận đến các nhóm khách hàng mới, hay những lợi ích mà các ngân hàng khác đều mong muốn có được như cơ hội được Ngân hàng Nhà nước nâng “room” tín dụng. Tuy nhiên, những khó khăn mà các ngân hàng này có thể đối mặt cũng không phải ít. Một khi nhận chuyển giao các ngân hàng yếu kém, các ngân hàng nhận chuyển giao không chỉ phải gánh thêm một khoản nợ xấu khổng lồ từ các ngân hàng yếu kém mà đồng thời còn phải chi trả lãi tiền gửi cho các khách hàng đã gửi tiền tại ngân hàng yếu kém. Bài học từ thương vụ sáp nhập Ngân hàng TMCP Phương Nam (Southernbank) vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (“Sacombank”) vẫn còn mới, thời điểm đó, một bộ phận cổ đông của Sacombank đã phản đối gay gắt phương án sáp nhập này[1], tính đến nay, thương vụ này rõ ràng đã khiến Sacombank bị chững lại so với đà phát triển lúc bấy giờ[2].

    Trở lại với tình hình hiện nay, theo thông tin mà đại diện của Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) đưa ra tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2022, doanh nghiệp này có thể mất khoảng 07 - 08 năm để giải quyết hết số nợ xấu lên đến 20.000 tỷ đồng của OceanBank[3]. Đây có thể xem là một thách thức lớn đối với ngân hàng này, sâu xa hơn sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các cổ đông. Do đó, việc nâng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc sẽ giúp những ngân hàng này tiếp cận được nguồn vốn lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài. Theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 151e Luật Các Tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, ngân hàng nhận chuyển giao được bán, phát hành cổ phần của ngân hàng nhận chuyển giao cho nhà đầu tư nước ngoài phù hợp với phương án chuyển giao bắt buộc đã được phê duyệt. Tuy nhiên, hiện tại Nghị định 01/2014/NĐ-CP đang giới hạn tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng thương mại Việt Nam[4]. Do đó, quyền được bán, phát hành cổ phần cho nhà đầu tư nước ngoài xem như vô nghĩa nếu như ngân hàng nhận chuyển giao đã lấp đầy “room ngoại”. Chính vì thế, việc Ngân hàng Nhà nước đề xuất tăng “room ngoại” vượt mức 30% vốn điều lệ của ngân hàng nhận chuyển giao giúp tháo gỡ nút thắt về giới hạn sở hữu cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, tối ưu hóa quyền dành cho ngân hàng nhận chuyển giao. Quy định này có thể giúp ngân hàng nhận chuyển giao tiếp cận được nguồn vốn mới, tạo nguồn lực để xử lý các vấn đề của ngân hàng được chuyển giao cũng như tận dụng kinh nghiệm quản trị từ các ngân hàng quốc tế trong trường hợp này.

     

     

    2. Tận dụng nguồn lực của nhà đầu tư nước ngoài để cơ cấu lại hệ thống ngân hàng

    Theo quan điểm được đưa ra trong Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước khuyến khích, thu hút nhà đầu tư có đủ năng lực trong nước và nước ngoài tham gia cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng[5]. Ngoài việc tận dụng được nguồn lực dồi dào về vốn như nêu tại Mục 1, nguồn lực của nhà đầu tư nước ngoài có thể được tận dụng bao gồm con người, năng lực điều hành quản trị, công nghệ,… Theo tờ trình của Ngân hàng Nhà nước, dự thảo sửa đổi Nghị định 01/2014/NĐ-CP chỉ nâng tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài tại ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc vượt 30%  nhưng không vượt quá 49% vốn điều lệ của ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc, nhưng không điều chỉnh giới hạn sở hữu đối với từng nhà đầu tư cá nhân, tổ chức nước ngoài hay nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. Điều này đồng nghĩa với việc một nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cũng chỉ có thể sở hữu tối đa 20% vốn điều lệ của ngân hàng nhận chuyển giao, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư mới có thể gia nhập vào ngân hàng nhận chuyển giao. Như đã nêu, việc xuất hiện nhà đầu tư mới sẽ đóng góp thêm các nguồn lực khác cho ngân hàng, đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại các ngân hàng yếu kém, giúp ngân hàng nhận chuyển giao nhanh chóng trở lại với tốc độ tăng trưởng vốn có.

     

    3. Tại sao lại chỉ nâng tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài?

    Ngoài lý do đến từ việc mong muốn đón nhận những nhà đầu tư mới như trên, một trong những lý do cho việc Ngân hàng Nhà nước chỉ đề xuất nâng tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài mà không nâng giới hạn sở hữu đối với từng nhà đầu tư cá nhân, tổ chức nước ngoài hay nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có thể đến từ việc lo ngại về vấn đề rút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài. Đối với hệ thống ngân hàng còn khá non trẻ và dễ bị tác động bởi các yếu tố kinh tế như Việt Nam, việc các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ số lượng lớn cổ phần rút vốn tại các ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng niêm yết có thể khiến cho hoạt động của các ngân hàng gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến các chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ quốc gia. Mặc dù đã có các quy định về hạn chế chuyển nhượng cổ phần của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức trong một khoảng thời hạn nhất định[6], tuy nhiên, cơ cấu lại ngân hàng là một quá trình dài, trong thời gian đó, việc phân tán tỷ lệ nắm giữ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài phần nào đó giúp hạn chế được khả năng tác động bất lợi của các nhà đầu tư nước ngoài lên hệ thống ngân hàng.

     

    Tóm lại, việc Ngân hàng Nhà nước đề xuất nâng tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài vượt mức 30% vốn điều lệ của ngân hàng nhận chuyển giao là bước đi phù hợp với chủ trương đã đề ra trong Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, hỗ trợ một cách thiết thực cho các ngân hàng nhận chuyển giao, tránh đặt các ngân hàng nhận chuyển giao vào tình thế “ôm rơm nặng bụng”. Đồng thời, đề xuất này cũng bảo đảm khả năng ảnh hưởng lên hệ thống ngân hàng một cách thấp nhất, nhằm duy trì tính lành mạnh, bền vững của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

     


    [4]Khoản 5 Điều 7 Nghị định 01/2014/NĐ-CP.

    [5]Khoản 3 Điều 1.I Quyết định phê duyệt Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng.

    [6]Khoản 5, Khoản 6 Điều 14 Nghị định 01/2014/NĐ-CP.