Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại mà các thương nhân sử dụng để thúc đẩy việc tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, mang lại lợi ích cho khách hàng. Theo quy định, có nhiều hình thức khuyến mại khác nhau, từ việc cung cấp hàng mẫu miễn phí đến tổ chức các chương trình may rủi với giải thưởng hấp dẫn. Mặc dù là một hoạt động quen thuộc, nhiều thương nhân vẫn gặp không ít vướng mắc khi thực hiện khuyến mại, bao gồm cả vướng mắc khi thực hiện thủ tục hành chính liên quan. Với mong muốn giải đáp một số vướng mắc, câu hỏi thường gặp của thương nhân khi thực hiện khuyến mại, HM&P đã biên soạn và trân trọng giới thiệu Tài liệu hỏi đáp về tuân thủ pháp luật trong hoạt động khuyến mại để các thương nhân có thể tham khảo trong quá trình hoạt động của mình.

![]() |
1 | Khuyến mại là gì? Có những hình thức khuyến mại nào? Chủ thể nào được thực hiện khuyến mại |
|
|
|
Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. Hiện nay có 9 hình thức khuyến mại gồm:
Chủ thể được thực hiện khuyến mại bao gồm:
Văn phòng đại diện của thương nhân không được thực hiện khuyến mại dưới mọi hình thức. |
![]() |
2 | Khi có sự hợp tác thực hiện cùng một chương trình khuyến mại thì chủ thể nào phải thực hiện thủ tục thông báo hoạt động khuyến mại? |
|
|
Trên thực tế, việc nhiều nhiều thương nhân cùng hợp tác để thực hiện chương trình khuyến mại là điều thường gặp. Căn cứ theo Điểm l Khoản 5 Điều 17 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, trường hợp nhiều thương nhân cùng phối hợp thực hiện chương trình khuyến mại thì nội dung thông báo phải nêu rõ tên các thương nhân cùng thực hiện, nội dung tham gia cụ thể và trách nhiệm cụ thể của từng thương nhân tham gia thực hiện chương trình khuyến mại trên cơ sở văn bản thỏa thuận/hợp đồng giữa các thương nhân. Do đó, một trong các thương nhân cùng thực hiện chương trình khuyến mại sẽ nhận sự uỷ quyền của các thương nhân hợp tác còn lại để thực hiện thủ tục hành chính thông báo khuyến mại. | |
![]() |
3 | Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại trên cả hai hình thức thông qua sàn giao dịch thương mại điện tử và ứng dụng cung cấp dịch vụ thương mại điện tử có cần thực hiện thủ tục thông báo hoạt động khuyến mại không? |
|
|
Điểm b Khoản 2 Điều 17 Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định các trường hợp không phải thực hiện thủ tục thông báo hoạt động khuyến mại khi “Thương nhân chỉ thực hiện bán hàng và khuyến mại thông qua sàn giao dịch thương mại điện tử, website khuyến mại trực tuyến”. Do đó, nếu thương nhân chỉ thực hiện các chương trình khuyến mại qua sàn giao dịch thương mại điện tử hoặc website khuyến mại trực tuyến thì không phải thực hiện thủ tục thông báo khuyến mại. Tuy nhiên, ngoài các trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 17 Nghị định 81/2018/NĐ-CP thì thương nhân vẫn phải thực hiện thủ tục thông báo khuyến mại. Tuy nhiên, trường hợp thương nhân còn thực hiện đồng thời chương trình khuyến mại “thông qua ứng dụng cung cấp dịch vụ thương mại điện tử” thì đây là trường hợp phải thực hiện thông báo khuyến mại theo quy định. Do đó, thương nhân phải thực hiện thông báo khuyến mại đối với chương trình khuyến mại trên ứng dụng cung cấp dịch vụ thương mại điện tử. |
|
![]() |
4 | Thương nhân muốn huỷ bỏ chương trình khuyến mại đã thông báo do vấn đề nội bộ của thương nhân có được hay không? |
|
|
Khoản 1 Điều 22 Nghị định 81/2018/NĐ quy định thương nhân thực hiện khuyến mại không được chấm dứt việc thực hiện chương trình khuyến mại trước thời hạn đã công bố hoặc đã được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xác nhận, trừ các trường hợp: (1) trường hợp bất khả kháng, hoặc (2) trường hợp thương nhân thực hiện khuyến mại hết số lượng hàng hóa, dịch vụ khuyến mại hoặc hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, hoặc (3) phát hành hết số lượng bằng chứng xác định trúng thưởng đã công bố, hoặc (4) đã được cơ quan quản lý nhà nước xác nhận, hoặc (5) trường hợp bị cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu chấm dứt việc thực hiện toàn bộ hoặc một phần chương trình khuyến mại của thương nhân. Sau khi đối chiếu các trường hợp được liệt kê trên đây, chúng tôi cho rằng vấn đề nội bộ của thương nhân có thể do bất khả kháng hoặc thương nhân hết số lượng hàng hóa, dịch vụ khuyến mại hoặc hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, phát hành hết số lượng bằng chứng xác định trúng thưởng đã công bố hoặc đã được cơ quan quản lý nhà nước xác nhận. Trong các trường hợp được cho là vấn đề nội bộ, thương nhân nên lưu ý rằng:
Do đó, tùy thuộc vào vấn đề nội bộ của thương nhân mà thương nhân có thể căn cứ vào hai trường hợp trên để thực hiện các thủ tục cần thiết và phù hợp. |
|
![]() |
5 | Thương nhân có hoạt động khuyến mại trên nhiều địa bàn, mỗi địa bàn có giá trị dưới 100 triệu đồng thì có phải thông báo? |
|
|
Điểm a Khoản 2 Điều 17 Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định thương nhân không phải thực hiện thủ tục thông báo hoạt động khuyến mại nếu thương nhân thực hiện các chương trình khuyến mại có tổng giá trị giải thưởng, quà tặng dưới 100 triệu đồng. Theo đó, tổng giá trị giải thưởng được xác định theo tổng giá trị của toàn bộ giải thưởng trong một chương trình khuyến mại, không phải căn cứ theo các giá trị của giải thưởng tương ứng với các phần/giai đoạn/địa bàn/đối tượng… khác nhau hoặc theo bất kỳ tiêu chí nào trong chương trình. Do đó, trường hợp doanh nghiệp tổ chức khuyến mại trên nhiều địa bàn nhưng là cùng một chương trình khuyến mại vẫn phải thực hiện thủ tục hành chính thông báo hoạt động khuyến mại theo quy định nếu tổng giá trị giải thưởng từ 100 triệu đồng trở lên |
|
![]() |
6 | Thương nhân bán hàng online, chạy chương trình khuyến mại flash sale có cần phải thực hiện thủ tục thông báo hoạt động khuyến mại không? |
|
|
Căn cứ theo Điểm b Khoản 2 Điều 17 Nghị định 81/2018/NĐ-CP các trường hợp không phải thực hiện thủ tục hành chính thông báo thực hiện khuyến mại khi khuyến mại theo các hình thức quy định tại Khoản 8 Điều 92 Luật Thương mại 2005 và các Điều 8, Điều 9, Điều 10, Điều 11, Điều 12, Điều 14 Nghị định 81/2018/NĐ-CP bao gồm trường hợp thương nhân chỉ thực hiện bán hàng và khuyến mại thông qua sàn giao dịch thương mại điện tử, website khuyến mại trực tuyến. Như vậy, nếu thương nhân chỉ bán trực tuyến có thực hiện khuyến mại qua sàn thương mại điện tử (Shopee, Lazada,...) thuộc trường hợp không phải thực hiện thủ tục thông báo hoạt động khuyến mại theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, nếu thương nhân đồng thời thực hiện khuyến mại thông qua ứng dụng cung cấp dịch vụ thương mại điện tử thì tương tự như đã nêu tại Câu hỏi số 2 ở trên, thương nhân phải thực hiện thông báo hoạt động khuyến mại. Tóm lại, không phân biệt nội dung chương trình khuyến mại của thương nhân, để biết chương trình khuyến mại mà mình thực hiện có thuộc diện thông báo hoạt động khuyến mại hay không, thương nhân cần căn cứ vào quy định về hình thức thực hiện khuyến mại đó |
|
|
|
7 |
Thương nhân phân phối có phải thực hiện đăng ký khuyến mại không? |
|
|
Theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, “Thương nhân thực hiện khuyến mại gồm thương nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trực tiếp khuyến mại hoặc thực hiện khuyến mại thông qua các thương nhân phân phối (bán buôn, bán lẻ, đại lý, nhượng quyền thương mại và các thương nhân phân phối khác theo quy định của pháp luật)”. Đồng thời, tại Điểm a Khoản 1 Điều 16 Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định “thương nhân thực hiện khuyến mại có trách nhiệm thông báo, đăng ký thực hiện khuyến mại với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền”. Như vậy, trường hợp thương nhân thực hiện khuyến mại thông qua các thương nhân phân phối mà thương nhân thực hiện khuyến mại đã thực hiện thủ tục thông báo/đăng ký thực hiện khuyến mại thì thương nhân phân phối không phải thực hiện các thủ tục này nữa. |
|
![]() |
8 | Các sản phẩm của thương nhân đang có mức giảm giá 40 - 50% (đã đăng ký chương trình với Sở Công thương), khách hàng có thể áp dụng ưu đãi khách hàng thân thiết 15% trên các sản phẩm đó nữa không? |
|
|
Các sản phẩm của thương nhân đang có mức giảm giá 40-50% (đã đăng ký chương trình khuyến mại với Sở Công thương), khách hàng không thể áp dụng ưu đãi khách hàng thân thiết 15% trên các sản phẩm đó nữa. Bởi hành vi này là vi phạm về hạn mức ưu đãi tối đa về giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại không được vượt quá 50% giá của sản phẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, ngoại trừ những trường hợp sẽ được đề cập tại Câu hỏi số 8 dưới đây. Trên thực tế, các công ty khi tổ chức các chương trình khuyến mại thường sẽ không cho phép khách hàng áp dụng đồng thời nhiều mã khuyến mại khác nhau để tránh bị xử phạt hành chính, cụ thể là phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với vi phạm thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá có mức giảm giá hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ vượt quá mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại theo quy định[1]. |
|
![]() |
9 | Doanh nghiệp có thể được khuyến mại với mức giảm giá 100% không? |
|
|
Việc doanh nghiệp quan tâm đến mức giảm giá, tức có nghĩa doanh nghiệp có thể đang thực hiện khuyến mại theo hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã thông báo (khuyến mại bằng hình thức giảm giá). Đối với hình thức này, Khoản 1 Điều 7 Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định mức giảm giá không được vượt quá 50% giá của hàng hóa, dịch vụ được bán, cung cấp. Tuy nhiên, vẫn có ngoại lệ trong trường hợp việc khuyến mại được doanh nghiệp thực hiện theo các chương trình khuyến mại tập trung (giờ, ngày, tuần, tháng, mùa khuyến mại) hoặc các hoạt động khuyến mại trong khuôn khổ các chương trình, hoạt động xúc tiến thương mại do Thủ tướng Chính phủ quyết định. Khi đó, mức giảm tối đa cho hàng hóa, dịch vụ được bán, cung cấp là 100%[2]. | |
![]() |
10 | Có cần phải thực hiện thủ tục đăng ký hoạt động khuyến mại đến Sở Công Thương nơi tổ chức khuyến mại về việc đưa hàng mẫu cho khách hàng dùng thử không trả tiền hay không? |
|
|
Theo Khoản 1 Điều 19 Nghị định 81/2018/NĐ-CP thì “thương nhân thực hiện thủ tục hành chính đăng ký hoạt động khuyến mại và phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xác nhận trước khi thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức chương trình khuyến mại mang tính may rủi và các hình thức khác theo quy định tại Khoản 9 Điều 92 Luật thương mại 2005”. Theo đó, hình thức đưa hàng mẫu cho khách hàng dùng thử không phải trả tiền không thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục đăng ký hoạt động đến Sở Công thương. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 8, Khoản 1 Điều 17 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, việc khuyến mại theo hình thức đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền thuộc trường hợp phải thông báo hoạt động khuyến mại. Do đó, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện thủ tục thông báo theo quy định. | |
![]() |
11 | Thương nhân phải báo cáo kết quả kết quả thực hiện chương trình khuyến mại đến Sở Công thương khi nào? |
|
|
Theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 21 Nghị định số 81/2018/NĐ-CP, trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày hết thời hạn trao giải thưởng của chương trình khuyến mại theo hình thức:
Theo đó, thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại phải có văn bản báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền (nơi đã đăng ký và được xác nhận) về kết quả thực hiện chương trình khuyến mại theo Mẫu số 07 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 81/2018/NĐ-CP. |
|
![]() |
12 | Giải thưởng không có người trúng thưởng của chương trình khuyến mại mang tính may rủi được quy định như thế nào? |
|
|
Căn cứ theo Khoản 4 Điều 13 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải trích 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước trong trường hợp không có người trúng thưởng. Giải thưởng không có người trúng thưởng của chương trình khuyến mại mang tính may rủi là giải thưởng trong trường hợp hết thời hạn trao thưởng nhưng không có người nhận hoặc không xác định được người trúng thưởng. Cụ thể, trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày hết thời hạn trao giải thưởng của chương trình khuyến mại, thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại phải có văn bản báo cáo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về kết quả thực hiện chương trình khuyến mại. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ khi nhận được báo cáo của thương nhân, cơ quan quản lý nhà nước ra quyết định thu nộp 50% giá trị đã công bố của giải thưởng không có người trúng thưởng của chương trình khuyến mại cho thương nhân đăng ký chương trình khuyến mại. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ khi nhận được quyết định thu nộp của cơ quan quản lý nhà nước, thương nhân có trách nhiệm nộp khoản tiền 50% giá trị đã công bố của giải thưởng không có người trúng thưởng của chương trình khuyến mại theo quyết định. | |
![]() |
13 | Doanh nghiệp thực hiện chương trình quay số trúng thưởng cho khách hàng đã sử dụng dịch vụ của mình trong thời gian trước đó thì có phải thực hiện thủ tục thông báo/đăng ký hoạt động khuyến mại không? |
|
|
Vào các dịp đặc biệt trong năm, một số doanh nghiệp thường tổ chức các chương trình quay số trúng thưởng cho các khách hàng đã hoặc đang sử dụng các dịch vụ của mình. Trên thực tế khi thực hiện thủ tục đăng ký khuyến mại tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, doanh nghiệp thường bị từ chối với lý do chương trình mà doanh nghiệp thực hiện không phải là chương trình khuyến mại. Doanh nghiệp cần lưu ý rằng, việc hiểu/diễn giải các quy định pháp luật về khuyến mại hiện nay đang có sự không đồng nhất tại mỗi cơ quan khác nhau, tuy nhiên, cách hiểu thông dụng và phổ biến hiện nay của cơ quan Nhà nước, được chúng tôi nhận thấy trong quá trình thực hiện thủ tục thông báo/đăng ký hoạt động khuyến mại, đó là hoạt động khuyến mại phải nhằm mục đích xúc tiến việc mua bán, cung ứng hàng hóa, dịch vụ tại thời điểm khuyến mại bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định và liên quan trực tiếp đến việc mua bán, cung ứng dịch vụ, hàng hóa đó. Do đó, đối với những hoạt động nhằm tri ân các khách hàng đã hoặc đang mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ của mình, Sở Công thương thông thường không xem là hoạt động khuyến mại. Trường hợp không được xem là hoạt động khuyến mại, các hoạt động như trên của thương nhân sẽ không phải thực hiện thủ tục thông báo/đăng ký hoạt động khuyến mại. |
|
![]() |
14 | Cách xác định tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại khi doanh nghiệp áp dụng hình thức giảm giá bán hàng hóa? |
|
|
Theo nội dung kê khai tại Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị định 81/2018/NĐ-CP về mẫu thông báo hoạt động khuyến mại, tại Mục 9 của văn bản này có đề cập nội dung về “Tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại”. Theo đó, đây là chỉ tiêu mà doanh nghiệp cần phải kê khai, thể hiện tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ được doanh nghiệp dùng để khuyến mại. Cụ thể, đối với trường hợp doanh nghiệp khuyến mại theo hình thức giảm giá, chỉ tiêu này chính là tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ được giảm. Doanh nghiệp cần lưu ý nội dung này, vì thực tế có nhiều trường hợp doanh nghiệp kê khai giá trị hàng hóa, dịch vụ trước hoặc sau khi giảm giá, các hồ sơ này thường bị từ chối bởi Sở Công thương. | |
![]() |
15 | Doanh nghiệp có trụ sở tại TP. HCM nhưng có dự án bất động sản tại các tỉnh thành lân cận, khi thực hiện khuyến mại để bán các căn hộ này, doanh nghiệp phải thông báo/đăng ký cho cơ quan nào? |
|
|
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp kinh doanh bất động sản có trụ sở tại TP. HCM nhưng lại có sản phẩm thuộc các dự án nằm trên địa bàn các tỉnh thành lân cận. Khi các doanh nghiệp này thực hiện khuyến mại, có thể bao gồm các hình thức thường gặp như giảm giá bán căn hộ, bốc thăm trúng thưởng khi mua căn hộ,… cần đặt biệt chú ý về cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ thông báo/đăng ký hoạt động khuyến mại. Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 17, Khoản 2 Điều 19 Nghị định 81/2018/NĐ-CP thì việc thông báo/đăng ký hoạt động khuyến mại phải được thực hiện tại Sở Công thương nơi có hoạt động khuyến mại (địa bàn thực hiện khuyến mại), trừ trường hợp khuyến mại theo hình thức may rủi trên địa bàn từ hai tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trở lên thì phải đăng ký với Bộ Công thương. Trường hợp doanh nghiệp có căn hộ tại các tỉnh thành lân cận, việc khuyến mại nhằm thúc đẩy việc mua bán căn hộ tại các tỉnh thành, do đó, Sở Công thương của các tỉnh thành nơi có căn hộ sẽ là cơ quan tiếp nhận hồ sơ, bất kể doanh nghiệp có trụ sở tại TP. HCM. |
|
![]() |
16 | Doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ thông báo hoạt động khuyến mại ngoài giờ hành chính không? |
|
|
Theo quy định tại Điều 17 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, thông báo khuyến mại phải được gửi về Sở Công thương trước ngày triển khai chương trình khuyến mại tối thiểu trước 03 ngày làm việc. Ngày nhận hồ sơ căn cứ theo ngày nhận ghi trên vận đơn bưu điện hoặc các hình thức có giá trị tương đương trong trường hợp gửi qua đường bưu điện, căn cứ theo ngày ghi trên giấy tiếp nhận hồ sơ trong trường hợp nộp trực tiếp, căn cứ theo thời gian ghi nhận trên hệ thống thư điện tử hoặc căn cứ theo ngày ghi nhận trên hệ thống trong trường hợp nộp qua hệ thống dịch vụ công trực tuyến. Thông thường, đối với các hồ sơ nộp ngoài giờ hành chính, ngày tiếp nhận hồ sơ sẽ được tính là ngày làm việc tiếp theo. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp nộp hồ sơ tại Sở Công thương TP. HCM, doanh nghiệp cần lưu ý đến Quyết định 09/2023/QĐ-UBND ngày 15/02/2023 của Ủy ban nhân dân TP. HCM. Theo quy định tại Khoản 6 Điều 7 Quy chế ban hành theo Quyết định này, “đối với trường hợp hồ sơ được nộp sau 15 (mười lăm) giờ, nộp vào ngày thứ Bảy, nộp ngoài giờ hành chính thì thời gian để bắt đầu tính thời điểm để xử lý hồ sơ là đầu giờ ngày làm việc tiếp theo”. Do đó, nếu doanh nghiệp nộp hồ sơ sau 15 (mười lăm) giờ, ngày tiếp nhận sẽ tính vào ngày làm việc tiếp theo, khi đó, có thể sẽ ảnh hưởng đến thời hạn của thông báo hoạt động khuyến mại. Ngoài ra, hiện nay khi doanh nghiệp thực hiện thông báo hoạt động khuyến mại trên hệ thống dịch vụ công trực tuyến (cụ thể là Cổng dịch vụ công quốc gia), khi kê khai ngày bắt đầu thực hiện khuyến mại, hệ thống sẽ tự động cho phép doanh nghiệp nhập ngày này sau ít nhất 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày doanh nghiệp kê khai, nộp hồ sơ. Đây là điểm thuận lợi cho các doanh nghiệp. |
|
![]() |
17 | Doanh nghiệp chiết khấu cho khách hàng khi mua hàng số lượng lớn hoặc thanh toán trước hạn thì có phải thông báo hoạt động khuyến mại không? |
|
|
Chiết khấu là thuật ngữ được quy định trong Quyết định 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 về việc ban hành và công bố 04 (bốn) chuẩn mực kế toán Việt Nam. Theo đó, chiết khấu bao gồm chiết khấu thương mại và chiết khấu thanh toán. “Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn”. “Chiết khấu thanh toán là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng”. Căn cứ vào quy định trên, có thể thấy, doanh nghiệp chiết khấu cho khách hàng khi mua hàng số lượng lớn hoặc thanh toán trước hạn đang áp dụng cả hai hình thức là chiết khấu thương mại và chiết khấu thanh toán. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Thương mại 2005 và Nghị định 81/2018/NĐ-CP, chiết khấu không được xem là một hình thức khuyến mại. Do đó, dù doanh nghiệp chiết khấu cho khách hàng khi mua hàng số lượng lớn hoặc thanh toán trước hạn thì vẫn không phải thông báo hoạt động khuyến mại. |


