Tranh chấp hợp đồng ký quỹ: Rủi ro tiềm ẩn đối với các công ty chứng khoán tại Việt Nam

Tài nguyên
Tranh chấp hợp đồng ký quỹ: Rủi ro tiềm ẩn đối với các công ty chứng khoán tại Việt Nam
Ngày đăng: 20/03/2026

    Giao dịch ký quỹ (margin trading) là dịch vụ tài chính phổ biến, cho phép nhà đầu tư mua chứng khoán bằng tiền vay từ công ty chứng khoán, với chính cổ phiếu mua và tài sản trên tài khoản làm tài sản bảo đảm. Dịch vụ này giúp tăng sức mua và khuếch đại lợi nhuận cho nhà đầu tư, nhưng đồng thời cũng khuếch đại rủi ro. Khi thị trường biến động bất lợi, tài sản bảo đảm sụt giảm giá trị nhanh chóng có thể dẫn đến tranh chấp hợp đồng ký quỹ giữa nhà đầu tư và công ty chứng khoán về việc thực hiện nghĩa vụ, xử lý tài sản đảm bảo, lãi suất và bồi thường thiệt hại.

     

    Khi thị trường biến động bất lợi, tài sản bảo đảm sụt giảm giá trị nhanh chóng có thể dẫn đến tranh chấp hợp đồng ký quỹ.

     

    Thông qua vụ án phúc thẩm số 200/2022/DS-PT của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh ngày 27/04/2022 về tranh chấp hợp đồng giao dịch ký quỹ giữa ông Nhan Đức Lâm (nhà đầu tư, bị đơn) và Công ty CP Chứng khoán KIS Việt Nam (nguyên đơn)[1], bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý, đồng thời đưa ra một số nhận định và kiến nghị pháp lý nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và giảm thiểu rủi ro tranh chấp trong thực tiễn.

    Bối cảnh vụ việc

    Ông Nhan Đức Lâm mở tài khoản giao dịch ký quỹ tại KIS và ký hợp đồng giao dịch ký quỹ để mua chứng khoán, với tổng số tiền giải ngân lên tới khoảng 109,7 tỷ đồng. Tài sản đảm bảo cho khoản vay là chính các cổ phiếu ông Lâm mua bằng tiền vay và các chứng khoán khác trên tài khoản ký quỹ của ông. Theo thỏa thuận ông Lâm có nghĩa vụ duy trì tỷ lệ ký quỹ tối thiểu (tỷ lệ tài sản thực có trên tổng nợ) ở mức nhất định (thường 30%) theo quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước. Đầu năm 2020, thị trường chứng khoán giảm mạnh, tỷ lệ ký quỹ trên tài khoản của ông Lâm giảm xuống dưới mức duy trì 30%. KIS đã nhiều lần gửi thông báo lệnh gọi ký quỹ bổ sung yêu cầu ông Lâm nộp thêm tiền hoặc chứng khoán nhằm đưa tỷ lệ ký quỹ trở lại mức quy định. Tuy nhiên, ông Lâm không bổ sung tài sản. Vì vậy, KIS đã thực hiện quyền xử lý tài sản bảo đảm: bán ra các cổ phiếu trong tài khoản ký quỹ của ông Lâm theo điều khoản hợp đồng đã ký và quy định pháp luật nhằm thu hồi nợ.

    Sau khi bán toàn bộ chứng khoán, KIS đã thu hồi khoảng 108,14 tỷ đồng tiền gốc từ việc xử lý tài sản, so với 109,7 tỷ đồng tiền gốc đã giải ngân cho ông Lâm. Như vậy, còn khoảng 1,55 tỷ đồng tiền gốc ông Lâm chưa thanh toán cho KIS sau khi đã bán hết chứng khoán cầm cố.

    Do ông Lâm không thanh toán khoản nợ còn lại, KIS khởi kiện ra tòa án, yêu cầu Tòa buộc ông Lâm thanh toán số tiền nợ gốc còn lại cùng tiền lãi phát sinh theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng ký quỹ. Đáp lại, trong đơn phản tố, ông Lâm cho rằng phía công ty chứng khoán cũng có trách nhiệm trong việc dẫn đến thiệt hại của ông. Từ đó, ông Lâm có thể yêu cầu Tòa án tuyên một phần hợp đồng vô hiệu hoặc buộc công ty chứng khoán bồi thường thiệt hại cho mình, hoặc ít nhất là cấn trừ khoản thiệt hại vào số tiền ông phải trả.

    Vụ án được Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm giải quyết vào năm 2021, chấp nhận một phần yêu cầu của bị đơn. Cụ thể, tòa sơ thẩm bác một phần yêu cầu khởi kiện của KIS và chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lâm. Không đồng ý với bản án sơ thẩm, cả ông Lâm và KIS kháng cáo. Ngày 27/4/2022, Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án. Tòa phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của Công ty KIS, buộc ông Nhan Đức Lâm phải thanh toán đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng ký quỹ đối với KIS.

    Các khía cạnh pháp lý phát sinh từ tranh chấp hợp đồng ký quỹ

    Nghĩa vụ các bên trong hợp đồng ký quỹ

    Trong hợp đồng giao dịch ký quỹ, nghĩa vụ cơ bản của các bên được xác định như sau:

    Bên công ty chứng khoán (bên cho vay) có nghĩa vụ cung cấp tiền vay đúng thỏa thuận để khách hàng mua chứng khoán, quản lý tài sản bảo đảm (chứng khoán mua bằng tiền vay và ký quỹ thêm của khách hàng) và thực hiện các quyền theo hợp đồng trong trường hợp khách hàng vi phạm. Đồng thời, công ty chứng khoán phải tuân thủ các hạn chế pháp lý, ví dụ: tổng dư nợ cho vay ký quỹ không vượt quá 200% vốn chủ sở hữu; dư nợ cho vay một khách hàng không quá 3% vốn chủ. Đây là các hạn mức nhằm đảm bảo an toàn hệ thống, mà vi phạm có thể dẫn đến chế tài từ cơ quan quản lý.

    Bên khách hàng (nhà đầu tư, bên vay) có nghĩa vụ sử dụng tiền vay đúng mục đích (mua các chứng khoán được phép ký quỹ), đảm bảo tỷ lệ ký quỹ ban đầu và duy trì theo hợp đồng, trả lãi định kỳ và hoàn trả nợ gốc đúng hạn. Pháp luật quy định rõ nhà đầu tư “có nghĩa vụ đảm bảo tỷ lệ ký quỹ ban đầu, tỷ lệ ký quỹ duy trì theo hợp đồng đã ký với công ty chứng khoán”. Khi tỷ lệ ký quỹ giảm xuống dưới mức duy trì, nhà đầu tư phải bổ sung tài sản (tiền hoặc chứng khoán) trong thời hạn quy định. Nếu không, họ sẽ bị xem là vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, cho phép công ty chứng khoán thực thi quyền xử lý tài sản bảo đảm.

    Trong vụ việc, bị đơn đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ duy trì tỷ lệ ký quỹ và nghĩa vụ thanh toán. Khi thị trường giảm mạnh, tỷ lệ ký quỹ của ông xuống dưới 30%. Theo thông lệ, KIS đã gửi thông báo gọi ký quỹ cho ông Lâm qua các phương tiện liên lạc đã đăng ký (email, SMS, điện thoại) yêu cầu ông nộp tiền bổ sung. Đây là nghĩa vụ của công ty chứng khoán: phải cảnh báo kịp thời cho khách hàng về tình trạng tài khoản và yêu cầu bổ sung để tránh bán tài sản. Thông tư 120/2020/TT-BTC không quy định cụ thể thời hạn bổ sung, thường do hợp đồng quy định. KIS khẳng định đã thực hiện đầy đủ việc thông báo. Phía ông Lâm, vì lý do nào đó, đã không bổ sung tài sản. Như vậy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ hợp đồng do không duy trì tỷ lệ ký quỹ.

     

    Nguồn: KIS

     

    Quyền xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng ký quỹ

    Tài sản bảo đảm ở đây chính là các cổ phiếu, chứng khoán trên tài khoản ký quỹ của khách hàng, bao gồm chứng khoán mua bằng tiền vay và chứng khoán khác nhà đầu tư ký quỹ thêm (thế chấp). Theo Thông tư 120/2020/TT-BTC, "chứng khoán có được từ giao dịch ký quỹ và các chứng khoán khác được giao dịch ký quỹ của nhà đầu tư được sử dụng làm tài sản bảo đảm cho khoản vay". Về mặt pháp lý dân sự, quan hệ này được coi là hợp đồng cầm cố tài sản. Chứng khoán là tài sản có giấy tờ có giá, nên có thể xem là đối tượng của cầm cố.

    Điều 299 BLDS 2015 quy định các trường hợp: (1) đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng; (2) bên có nghĩa vụ vi phạm nghĩa vụ phải thực hiện trước thời hạn theo thỏa thuận hoặc luật; (3) các trường hợp khác do thỏa thuận hoặc luật quy định. Trường hợp của ông Lâm rơi vào (1) và (2): ông không giữ đúng tỷ lệ (vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận, dẫn đến phải thực hiện nghĩa vụ trước hạn là bổ sung ký quỹ), và đến hạn thanh toán nợ thì không trả đủ. Do đó điều kiện xử lý tài sản bảo đảm đã đẩy đủ theo thỏa thuận giữa các bên cũng như quy định của pháp luật. Như vậy, KIS hoàn toàn có quyền tự bán cổ phiếu của ông Lâm khi ông không bổ sung ký quỹ. Đây là quyền hợp pháp, được sự đồng ý trước của khách hàng qua hợp đồng.

    Trong vụ án, bị đơn cho rằng KIS bán tài sản không hợp lý như bán ồ ạt đẩy giá xuống, khiến thiệt hại tăng. Tuy nhiên, tòa án phúc thẩm không chấp nhận luận điểm này vì cho rằng đây là rủi ro thị trường mà cả hai bên phải chấp nhận.

    Cũng cần lưu ý, Điều 11 Thông tư 120/2020/TT-BTC cấm công ty chứng khoán cho vay ký quỹ để mua những cổ phiếu có rủi ro cao (như cổ phiếu công ty CK tự bảo lãnh phát hành, cổ phiếu chính công ty mẹ,… và các trường hợp UBCKNN quy định). Nếu KIS cho nhà đầu tư vay mua cổ phiếu bị cấm ký quỹ, việc cầm cố những cổ phiếu đó có thể bị coi là không hợp lệ, hoặc ít nhất không được tính làm tài sản đảm bảo. Khi xảy ra tranh chấp, khách hàng có thể lập luận rằng công ty vi phạm quy định danh mục dẫn đến thiệt hại cho mình.

    Lãi suất trong hợp đồng ký quỹ và vấn đề pháp lý liên quan

    Lãi suất vay ký quỹ là vấn đề được quan tâm đặc biệt, bởi đây là chi phí lớn đối với nhà đầu tư và là nguồn thu quan trọng của công ty chứng khoán. Về pháp lý, lãi suất cũng thường xuyên là điểm gây tranh cãi trong các hợp đồng vay. BLDS 2015 đặt ra trần lãi suất cho vay trong giao dịch dân sự: “lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có quy định khác”[2]. Nếu thỏa thuận lãi suất cao hơn mức này, phần vượt quá không có hiệu lực. Đối với hợp đồng ký quỹ giữa công ty chứng khoán và cá nhân, đây được xem là giao dịch dân sự. Luật Chứng khoán 2019 và các văn bản liên quan không quy định mức trần cụ thể cho lãi suất margin, nên áp dụng mặc nhiên quy định của BLDS. Vì thế, mọi hợp đồng ký quỹ phải tuân theo mức trần 20%/năm.

    Một khía cạnh khác về lãi suất là lãi suất chậm trả, lãi phạt quá hạn. Nhiều hợp đồng quy định khi khách hàng quá hạn trả nợ, phần nợ quá hạn sẽ chịu lãi suất bằng 150% lãi suất thông thường. Ví dụ, lãi suất margin 13%/năm thì lãi quá hạn ~19,5%/năm, vẫn dưới trần 20%. Trong tranh chấp này, phía bị đơn đã phản đối mức lãi suất mà KIS tính, cho rằng quá cao hoặc cách tính không hợp lý. Một luận điểm có thể là: vì hợp đồng ký quỹ có tính chất thương mại, có ý kiến cho rằng áp dụng Luật Thương mại 2005, khi bồi thường thiệt hại do chậm trả tiền chỉ tính lãi theo lãi suất cơ bản của NHNN. Tuy nhiên, quan hệ giữa KIS (một công ty) và ông Lâm (cá nhân) về bản chất được xem là giao dịch dân sự, không hoàn toàn chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại. Do đó, tòa án áp dụng BLDS 2015 và hợp đồng làm căn cứ, chứ không áp trần lãi suất thương mại 9%. Hơn nữa, như đã lập luận, lãi margin ~13% và lãi quá hạn ~19.5% vẫn trong khung 20% nên hoàn toàn hợp lệ. Tòa phúc thẩm đã chấp nhận cho KIS thu lãi theo hợp đồng, đồng nghĩa với việc mức lãi suất và cách tính của KIS không vi phạm pháp luật.

     

     Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh

     

    Rủi ro tiềm ẩn và hướng khắc phục trong nghiệp vụ ký quỹ

    Vụ tranh chấp giữa KIS và ông Lâm cho thấy mặc dù pháp luật đã có khung khổ rõ ràng cho giao dịch ký quỹ, nhưng các công ty chứng khoán vẫn đối mặt nhiều rủi ro tiềm ẩn và khó lường khi triển khai dịch vụ này.

    Rủi ro pháp lý từ vi phạm quy định quản lý ký quỹ: Ủy ban Chứng khoán và Bộ Tài chính có những quy định chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho hoạt động cho vay ký quỹ. Như đã đề cập, hạn mức tổng dư nợ margin là 200% vốn chủ sở hữu, và cho một khách hàng tối đa 3% vốn. Ngoài ra, công ty phải tuân thủ danh sách chứng khoán được phép ký quỹ. Vi phạm các giới hạn này sẽ bị xử phạt hành chính nghiêm khắc. Những vi phạm này không chỉ dẫn đến thiệt hại tài chính trực tiếp mà còn gây mất uy tín của doanh nghiệp. Do đó, tuân thủ pháp luật là nguyên tắc sống còn. Công ty chứng khoán cần xây dựng hệ thống kiểm soát để ngăn chặn việc vượt hạn mức và tự động khóa các mã cổ phiếu không được phép ký quỹ.

    Rủi ro tranh chấp pháp lý và chi phí liên quan: Khi tranh chấp xảy ra, kể cả công ty chứng khoán cuối cùng thắng kiện, thì vẫn phải mất rất nhiều thời gian và chi phí. Uy tín của công ty cũng có thể bị ảnh hưởng nếu vụ kiện được công khai trên các phương tiện truyền thông. Do đó, việc phòng ngừa tranh chấp ngay từ đầu là rất quan trọng. Mỗi khách hàng ký quỹ nên được tư vấn rõ ràng, ký kết hợp đồng đầy đủ điều khoản, trong đó chú trọng điều khoản giải quyết tranh chấp bằng thương lượng hoặc trọng tài. Nếu có thể đưa vào trọng tài, công ty sẽ tránh được phán quyết công khai và rút ngắn thời gian xử lý tranh chấp so với ra tòa. Hiện nay, hành lang pháp lý cơ bản về ký quỹ đã được định hình một cách rõ ràng từ luật, tới nghị định và thông tư. Tuy nhiên, công ty chứng khoán cần quy định rõ ràng hơn nữa trong mẫu hợp đồng ký quỹ với khách hàng cũng như quy trình xử lý ký quỹ bổ sung và bán giải chấp. Chẳng hạn quy định phải thông báo cho khách hàng bằng ít nhất thông qua hai phương tiện liên hệ cụ thể như email, điện thoại, hoặc tin nhắn và cho thời gian tối thiểu với số ngày cụ thể để bổ sung hạn mức ký quỹ. Khi quá thời hạn đó được phép bán. Đồng thời, công ty chứng khoán phải lưu trữ bằng chứng khách hàng đã nhận thông tin, nhưng không phản hồi hoặc thực hiện yêu cầu. Nếu mọi công ty áp dụng tương đối thống nhất, tòa án hoặc cơ quan tranh chấp sẽ dễ dàng xem xét tính hợp lệ của việc xử lý tài sản.

    Tranh chấp giữa Công ty Chứng khoán KIS và nhà đầu tư về hợp đồng ký quỹ là hồi chuông cảnh tỉnh về những rủi ro tiềm ẩn trong nghiệp vụ này. Dù kết quả cuối cùng phần thắng nghiêng về phía công ty chứng khoán, nhưng cái giá phải trả là không nhỏ: khoản nợ xấu, thời gian kiện tụng kéo dài, và uy tín bị ảnh hưởng. Các công ty chứng khoán cần đề cao quản trị rủi ro trong cho vay ký quỹ: luôn tuân thủ giới hạn, quy định của cơ quan quản lý; thiết lập quy trình ký quỹ chặt chẽ, minh bạch; chủ động phòng ngừa và xử lý sớm để tránh tình huống xấu nhất. Rủi ro tiềm ẩn có thể đến từ biến động thị trường vượt dự báo, từ chính khách hàng hoặc từ lỗ hổng của công ty. Công ty chứng khoán phải luôn chuẩn bị cho kịch bản xấu, có phương án ứng phó, thay vì chủ quan trong giai đoạn thị trường thuận lợi.

    Về phía nhà làm luật và cơ quan quản lý, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho nghiệp vụ ký quỹ, tạo sự cân bằng giữa thúc đẩy thị trường và bảo vệ các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán. Việc ban hành hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ ký quỹ, đặc biệt là quy định rõ ràng thủ tục xử lý tài khoản ký quỹ trong trường hợp khẩn cấp để bảo vệ tài sản của nhà đầu tư và công ty chứng khoán là hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó, Ủy ban chứng khoán Nhà nước cần tăng cường giám sát và chế tài, cũng như hướng dẫn nhà đầu tư nắm bắt quyền và nghĩa vụ khi tham gia giao dịch này sẽ góp phần giảm các xung đột không đáng có. Nhà đầu tư cũng cần nâng cao ý thức: sử dụng margin một cách thận trọng, hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, tôn trọng hợp đồng đã cam kết.

    Tóm lại, giao dịch ký quỹ là con dao hai lưỡi – nó mở ra cơ hội lợi nhuận cao nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro không nhỏ cho cả nhà đầu tư lẫn công ty chứng khoán. Vụ án tranh chấp ký quỹ phân tích trong bài là một minh chứng điển hình. Để hạn chế những tranh chấp tương tự, rất cần sự chung tay của tất cả các bên có liên quan từ nhà làm luật, cơ quan quản lý, công ty chứng khoán và nhà đầu tư. Có như vậy, thị trường chứng khoán Việt Nam mới phát triển an toàn, bền vững, giảm thiểu được các rủi ro và hệ lụy đáng tiếc trong thời gian tới.

    Luật sư Nguyễn Văn Phúc

    Công ty Luật TNHH HM&P


     

     

    [2] Điều 468 BLDS 2015