Thẻ đi lại doanh nhân APEC (APEC Business Travel Card - ABTC) được kỳ vọng là tấm “visa vàng” giúp doanh nhân Việt Nam thuận lợi hơn trong giao thương quốc tế. Nhưng thực tế cho thấy, hành trình xin cấp thẻ ABTC là một “bài kiểm tra sức bền” đối với doanh nghiệp, không phải vì quy định quá khắt khe mà vì thiếu minh bạch và nhất quán trong cách thức vận dụng quy định pháp lý cấp thẻ tại từng địa phương.

Quy định pháp lý: có khung sườn nhưng thiếu “xương sống”
Quyết định 09/2023/QĐ-TTg là văn bản pháp lý điều chỉnh toàn bộ hoạt động cấp thẻ ABTC. Về mặt pháp lý, quyết định này đã thiết lập một khung pháp lý tương đối đầy đủ, xác định rõ đối tượng, điều kiện, trình tự, thẩm quyền và thời hạn xử lý hồ sơ. Về mặt kỹ thuật lập pháp, khung pháp lý này được xem là bước tiến mới so với các quy định cũ.
Tuy nhiên, điểm nghẽn lớn nhất của văn bản này cũng là nguyên nhân khiến doanh nghiệp gặp khó nằm ở chỗ văn bản pháp lý này chỉ đưa ra các tiêu chí mang tính định tính. Chẳng hạn một số điều kiện như doanh nghiệp có hoạt động hợp tác với đối tác tại các quốc gia thành viên APEC, doanh nhân giữ chức vụ thực tế từ 12 tháng trở lên tại doanh nghiệp hoặc doanh nghiệp có nhu cầu cử doanh nhân đi lại thường xuyên để thực hiện hoạt động hợp tác với đối tác tại các quốc gia thành viên APEC mà không đi kèm các thông số định lượng rõ ràng. Hoặc với điều kiện, doanh nghiệp có hợp tác với đối tác APEC nhưng không rõ hợp đồng trị giá bao nhiêu, thời hạn bao lâu thì được xem là hợp tác. Ngay cả tiêu chí doanh nhân có nhu cầu đi lại thường xuyên mà không có hướng dẫn có cần thiết về việc xuất nhập cảnh đến các quốc qua thành viên APEC hay không hay về số lần xuất nhập cảnh tối thiểu trong vòng 12 tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ.
Chính sự thiếu vắng các tiêu chí định lượng này khiến việc doanh nghiệp mơ hồ khi nộp hồ sơ đề nghị và việc xét duyệt hồ sơ trở nên phụ thuộc vào tiêu chí đánh giá của cơ quan chuyên môn cấp phép.
Khó với chuyện “đáp ứng điều kiện”
Điều 12 Quyết định số 09/2023/QĐ-TTg quy định việc thực hiện thủ tục cấp văn bản cho phép sử dụng thẻ ABTC và cấp mới thẻ ABTC. Đầu tiên, việc cấp văn bản cho phép sử dụng thẻ ABTC phải được thực hiện tại cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Tùy thuộc vào từng địa phương, cơ quan chuyên môn này có thể là Sở Ngoại vụ, Sở Tài chính (như tại TPHCM)… Cơ quan này sẽ đóng vai trò là đầu mối, lấy ý kiến từ các cơ quan chuyên môn khác như thuế, bảo hiểm xã hội, công an, xuất nhập cảnh. Trên cơ sở xem xét các ý kiến trả lời từ các cơ quan chuyên môn khác, Sở này sẽ ra văn bản thông báo về việc cho phép hay trả lời về việc doanh nhân không đủ điều kiện được cho phép sử dụng thẻ ABTC nếu từ chối. Trên cơ sở được chấp thuận, doanh nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp mới thẻ ABTC tại Cục Quản lý xuất nhập cảnh.
Song, thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã bị vướng ngay từ bước nộp hồ sơ đầu tiên. D nh nghiệp phản ánh bị từ chối hồ sơ một cách không rõ ràng. Có hồ sơ bị yêu cầu cung cấp “bằng chứng đi lại thường xuyên” của doanh nhân dù không có quy định nào yêu cầu phải xuất nhập cảnh tối thiểu bao nhiêu lần trong năm đối với doanh nhân được xét cấp thẻ. Có hồ sơ bị đánh giá là “chưa đủ hợp tác quốc tế” dù đã có hợp đồng thương mại với đối tác APEC trị giá hàng trăm ngàn đô la Mỹ. Có doanh nghiệp bị vướng vấn đề về doanh thu do chưa đáp ứng doanh thu tối thiểu so với mặt bằng chung tại địa phương để được xem xét cấp thẻ ABTC.
Trong nỗ lực tăng cường giao thương quốc tế, doanh nghiệp đương nhiên sẽ phải tuân thủ các thủ tục quy định nhưng họ cũng cần biết rõ các điều kiện thực tế là gì.

Nguồn: The Saigon Times
Khoảng trống giữa quy định chung và quy tắc riêng
Tình trạng “mỗi nơi một kiểu” trong xét duyệt hồ sơ ABTC không là lỗi của doanh nghiệp. Theo quy định tại Điều 12 Quyết định 09/2023/QĐ-TTg, Sở Tài chính có trách nhiệm lấy ý kiến các cơ quan chuyên môn trong vòng ba ngày làm việc. Các cơ quan này có 20 ngày để phản hồi. Tuy nhiên, quyết định này không đi kèm cơ chế giám sát hoặc chế tài nếu cơ quan không phản hồi đúng hạn.
Ngoài ra, quyết định cũng không yêu cầu công khai tiêu chí xét duyệt nội bộ, dẫn đến tình trạng quy tắc “ngầm” tồn tại song song với luật chính thức. Bên cạnh đó, vì không có hướng dẫn cụ thể nào được ban hành nên trên thực tế đã hình thành một hệ thống tiêu chí “ngầm định”, chỉ được truyền miệng qua cán bộ tiếp nhận hoặc người có kinh nghiệm thực hiện. Chính những tiêu chí “không thành văn” này đã vô hình trung tạo ra rào cản hành chính không chính thức, gây áp lực và rủi ro cho doanh nghiệp.
Từ những bất cập nêu trên, có thể thấy rằng cải cách thủ tục cấp thẻ ABTC là một yêu cầu thiết yếu! Để việc cải cách này đạt hiệu quả thực chất, cần được triển khai đồng bộ theo ba trụ cột sau:
Thứ nhất, minh bạch hóa tiêu chí xét duyệt. Các cơ quan có thẩm quyền cần ban hành hướng dẫn chi tiết quy định rõ các tiêu chí định lượng như doanh thu tối thiểu, số lần xuất nhập cảnh, giá trị hợp đồng hợp tác, thời gian giữ chức vụ có đóng bảo hiểm xã hội... Việc này không chỉ giúp doanh nghiệp chủ động đánh giá khả năng đáp ứng điều kiện cấp thẻ mà còn góp phần giảm tải áp lực cho cơ quan xét duyệt.
Thứ hai, chuẩn hóa quy trình liên ngành. Việc số hóa toàn bộ quy trình và tạo kênh theo dõi minh bạch giữa các cơ quan chuyên môn sẽ giúp rút ngắn thời gian xử lý và tránh tình trạng thời hạn giải quyết hồ sơ kéo dài.
Thứ ba, bảo đảm quyền được biết và quyền khiếu nại của doanh nghiệp. Trường hợp hồ sơ không được chấp thuận, cơ quan xử lý cần có văn bản trả lời chính thức, nêu rõ lý do từ chối, căn cứ pháp lý liên quan và hướng dẫn cụ thể để doanh nghiệp có thể bổ sung hoặc thực hiện quyền khiếu nại.
Luật sư Cao Nguyễn Bảo Liên
Công ty Luật TNHH HM&P
