Sa thải thành viên ban lãnh đạo công đoàn - Nhiều rủi ro tiềm ẩn cho doanh nghiệp

Tài nguyên
Sa thải thành viên ban lãnh đạo công đoàn - Nhiều rủi ro tiềm ẩn cho doanh nghiệp
Ngày đăng: 25/10/2023

    Bài viết của Luật sư Nguyễn Nhật Dương và trợ lý luật sư Phan Thị Mai Hương đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Sài Gòn số 41 - 2023 (phát hành ngày 12 - 10 - 2023). Dưới đây là nội dung của bài viết:

    Theo quy định hiện hành, quan hệ lao động giữa doanh nghiệp và thành viên ban lãnh đạo công đoàn cơ sở (“thành viên BLĐCĐ”) có thể chấm dứt trong trường hợp doanh nghiệp xử lý kỷ luật bằng hình thức sa thải người lao động là thành viên BLĐCĐ. Tuy nhiên, không giống như trường hợp chấm dứt quan hệ lao động đối với người lao động khác, với thành viên BLĐCĐ, doanh nghiệp còn phải tuân thủ các thủ tục đặc biệt mà pháp luật dành riêng cho nhóm đối tượng này. Thực tế đã phát sinh nhiều tranh chấp giữa thành viên BLĐCĐ và doanh nghiệp liên quan đến yêu cầu tuân thủ trình tự, thủ tục khi doanh nghiệp kỷ luật sa thải thành viên BLĐCĐ. Trong bài viết này, tác giả mong muốn cung cấp một góc nhìn rõ ràng hơn về trình tự, thủ tục đặc biệt này thông qua quan điểm của cơ quan tiến hành tố tụng trong Bản án số 144/2021/LĐ-PT ngày 02/02/2021 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh[1] (“bản án”).

    Hai cấp xét xử không cùng quan điểm

    Bản án trên xoay quanh việc nguyên đơn là Bà H khởi kiện Công ty TNHH NGKCCCLVN (“Công ty CCCL”) để yêu cầu hủy quyết định sa thải mà Công ty CCCL đã ban hành để kỷ luật bà vào ngày 10/01/2019. Trước đó, Công ty CCCL đã kỷ luật sa thải Bà H với lý do bà có hành vi vu khống lãnh đạo và nhân viên Công ty. Tại giai đoạn sơ thẩm, Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức đã ban hành bản án chấp nhận một phần yêu cầu của Bà H, trong đó có yêu cầu về việc hủy quyết định sa thải, với một trong các lý do đến từ việc Công ty CCCL không tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định khi sa thải Bà H, một thành viên BLĐCĐ.

    Tuy nhiên, sau khi Công ty CCCL kháng cáo, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (tòa án cấp phúc thẩm) đã có quan điểm hoàn toàn khác khi cho rằng Công ty CCCL đã hoàn toàn tuân thủ trình tự, thủ tục cần thiết để sa thải Bà H đúng quy định. Từ đó, chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Công ty CCCL, hay nói cách khác, công nhận việc Công ty CCCL sa thải Bà H là hợp pháp.

    Quy định pháp luật về trình tự, thủ tục đặc biệt mà doanh nghiệp cần thực hiện

    Như đã đề cập ở trên, khác với các trường hợp chấm dứt quan hệ lao động đối với người lao động thông thường, khi sa thải người lao động là thành viên BLĐCĐ, doanh nghiệp cần thực hiện thêm một thủ tục đặc biệt, đó là cần phải thỏa thuận bằng văn bản với Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở. Trường hợp không thỏa thuận được, hai bên phải báo cáo với cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Sau 30 ngày kể từ ngày báo cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh biết, doanh nghiệp mới có quyền quyết định[2].

    Có thể thấy, song song với căn cứ để xử lý kỷ luật, pháp luật về lao động còn đặc biệt đề cao tính tuân thủ tuyệt đối của doanh nghiệp đối với trình tự, thủ tục khi sa thải người lao động. Do đó, mặc dù đã có cơ sở vững chắc để sa thải người lao động là thành viên BLĐCĐ, doanh nghiệp cũng cần để tâm đến quy định về thủ tục đặc biệt này, tránh rơi vào trường hợp bị xem là sa thải người lao động trái quy định pháp luật. Đó là trường hợp mà doanh nghiệp phải gánh chịu rất nhiều rủi ro khi phải thực hiện các nghĩa vụ, chịu trách nhiệm theo quy định của Bộ luật Lao động về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực lao động hoặc giải quyết tranh chấp lao động cá nhân, đồng thời còn phải thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp tương tự như trường hợp đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trái pháp luật. Điều này có thể khiến doanh nghiệp tiêu tốn nhiều thời gian, tiền bạc và nguồn lực khác của mình.

    Nguồn: https://thesaigontimes.vn/

    Cách thức thỏa thuận giữa doanh nghiệp và Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở

    Quay trở lại với nội dung bản án ở trên, sự không thống nhất trong quan điểm xét xử vụ án lại bắt nguồn từ chính quy định yêu cầu phải có thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp và Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở. Cụ thể, Công ty CCCL cho rằng ngày 27/11/2018, công ty này đã tổ chức cuộc họp xử lý kỷ luật lao động đối với Bà H. Cuộc họp này có sự tham gia của các thành viên thuộc Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở của công ty. Do đó, Biên bản xử lý kỷ luật lao động phát sinh từ cuộc họp này cũng đồng thời ghi nhận thỏa thuận giữa doanh nghiệp và Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm đã không đồng ý với ý kiến của Công ty CCCL, đồng thời, nhận định Công ty CCCL thỏa thuận với Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở bằng Biên bản xử lý kỷ luật lao động là không có căn cứ. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm lại cho rằng Công ty CCCL tổ chức họp để xử lý kỷ luật Bà H với đầy đủ thành phần tham dự (có các thành viên là Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở), các thành phần tham dự đều ký tên trên Biên bản xử lý kỷ luật lao động. Đồng thời, vì Bà H là thành viên BLĐCĐ và tại cuộc họp ngày 27/11/2018, Ông P là đại diện Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở đã trình bày ý kiến không đồng ý việc kỷ luật sa thải Bà H. Do đó, Công ty CCCL sau đó đã gửi Thông báo về việc xử lý kỷ luật sa thải đối với Bà H đến Sở Lao động-Thương binh và Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh. Từ các nhận định trên, Tòa án cấp phúc thẩm đã đi đến kết luận Công ty CCCL đã tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm đã xem Biên bản xử lý kỷ luật lao động phát sinh từ cuộc họp xử lý kỷ luật lao động Bà H chính là thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp và Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở.

    Chúng tôi đồng tình với quan điểm của Tòa án cấp sơ thẩm khi nhận định rằng Biên bản xử lý kỷ luật lao động không đồng nhất với thỏa thuận giữa doanh nghiệp và Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở, bởi lẽ:

    Thứ nhất, hiện nay theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Lao động 2019 (tương ứng với Điều 123 Bộ luật Lao động 2012) thì việc tổ chức cuộc họp xử lý kỷ luật lao động là điều kiện bắt buộc trong quy trình xử lý kỷ luật lao động. Đồng thời, nếu người bị xử lý kỷ luật ở đây không phải là thành viên BLĐCĐ thì cuộc họp này cũng cần phải có sự tham gia của đại diện công đoàn cơ sở. Do đó, có thể thấy, việc Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở tham dự cuộc họp xử lý kỷ luật lao động và ký tên trên Biên bản xử lý kỷ luật lao động là một hoạt động độc lập theo quy định của pháp luật về điều kiện xử lý kỷ luật lao động, áp dụng chung cho tất cả người lao động, không phụ thuộc vào việc người bị xử lý kỷ luật lao động có phải là thành viên BLĐCĐ hay không.

    Thứ hai, công đoàn được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thiểu số phục tùng đa số. Nghị quyết của công đoàn được thông qua theo đa số[3]. Như vậy, để xác định có văn bản thoả thuận với Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở thì Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở phải tổ chức họp, biểu quyết thống nhất về việc xử lý kỷ luật người lao động là thành viên BLĐCĐ và phải thể hiện bằng nghị quyết. Trong vụ án này, mặc dù cuộc họp xử lý kỷ luật có sự tham gia của ba thành viên từ công đoàn cơ sở là Chủ tịch, Phó Chủ tịch và Uỷ viên Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Nhưng việc này không có nghĩa đó là ý kiến của đầy đủ hoặc thậm chí là của đa số thành viên Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở của công ty. Mà thực chất đây chỉ là ý kiến của thành viên Hội đồng xử lý kỷ luật lao động được triệu tập để đại diện cho công đoàn cơ sở. Vì vậy, việc Biên bản xử lý kỷ luật lao động ghi nhận ý kiến của các thành viên Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở tại cuộc họp xử lý kỷ luật lao động không thể được xem là đã có sự thỏa thuận bằng văn bản giữa doanh nghiệp và Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở như luật định.

    Thứ ba, cả Bộ luật Lao động 2019 và Bộ luật Lao động 2012 đều quy định việc cuộc họp xử lý kỷ luật lao động vẫn sẽ được tổ chức nếu đại diện Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở không tham gia. Hay nói cách khác, nếu đại diện Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở không tham gia, cuộc họp xử lý kỷ luật vẫn diễn ra, nhưng nếu Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở không thỏa thuận được với doanh nghiệp về việc xử lý kỷ luật người lao động là thành viên BLĐCĐ thì doanh nghiệp phải thông báo cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Như vậy, có thể thấy, nếu Tòa án cấp phúc thẩm đánh đồng việc đại diện Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở tham gia cuộc họp xử lý kỷ luật lao động có ý nghĩa như thỏa thuận giữa doanh nghiệp và Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở, sẽ dẫn đến trường hợp doanh nghiệp cho rằng việc đại diện Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở không tham gia cuộc họp xử lý kỷ luật cũng đồng nghĩa với việc giữa doanh nghiệp và Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở không thỏa thuận được về việc xử lý kỷ luật người lao động là thành viên BLĐCĐ. Từ đó, doanh nghiệp gửi thông báo cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và tiến hành sa thải người lao động. Điều này có thể gây nên sự hiểu nhầm nguy hiểm cho doanh nghiệp.

    Tóm lại, doanh nghiệp cần tách bạch giữa việc tham gia cuộc họp xử lý kỷ luật lao động của đại diện Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở và việc thỏa thuận giữa doanh nghiệp với Ban lãnh đạo công đoàn cơ sở, thực hiện hai thủ tục này một cách độc lập nhằm tuân thủ quy định pháp luật cũng như tránh những rủi ro mà doanh nghiệp mình có thể gặp phải.

     

    Đọc bài viết tại: Sa thải thành viên ban lãnh đạo công đoàn – nhiều rủi ro tiềm ẩn cho doanh nghiệp


    [1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta778848t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập ngày 25/9/2023.

    [2] Khoản 3 Điều 177 Bộ luật Lao động 2019, tương ứng với Khoản 7 Điều 192 Bộ luật Lao động 2012.

    [3] Điều 6 Quyết định số 174/QĐ-TLĐ ngày 03/02/2020 về việc ban hành Điều lệ Công đoàn Việt Nam (Khoá XII)