M&A vốn là lĩnh vực phức tạp, mỗi thỏa thuận đều có giá trị hàng chục tỷ đồng trở lên, do đó không thể chủ quan trong khâu soạn thảo và thực hiện hợp đồng. Việc sử dụng nhiều hợp đồng/văn bản rời rạc, không thống nhất chẳng những không “an toàn hơn” mà ngược lại, còn mở ra những kẽ hở nguy hiểm, dẫn đến những rủi ro cho giao dịch và có thể gây nên những tranh chấp kéo dài giữa các bên tham gia.

M&A vốn là lĩnh vực phức tạp, mỗi thỏa thuận đều có giá trị hàng chục tỷ đồng trở lên, do đó không thể chủ quan trong khâu soạn thảo và thực hiện hợp đồng.
Từ một vụ việc thực tế
Cuối năm 2008, ông Hồng A. P. và bà Trần Thị D. – hai cổ đông sáng lập của Công ty cổ phần Đ3 đã tiến hành đàm phán chuyển nhượng cổ phần cho một nhà đầu tư khác là Công ty cổ phần Đ2. Tại thời điểm đó, ông P. nắm 348 cổ phần (36,44% vốn điều lệ) và bà D. nắm 145 cổ phần (15,18% vốn điều lệ) trong tổng số 955 cổ phần của Công ty Đ3. Ban đầu, các bên lập văn bản thỏa thuận ngày 06/10/2008 cam kết ông P. và bà D. sẽ bán tổng cộng 925 cổ phần Công ty Đ3 cho Công ty Đ2, chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn 1: 638 cổ phần với giá 2.532.304,17 USD; Giai đoạn 2: 31 cổ phần với giá 2.618.390,16 USD; Giai đoạn 3: 256 cổ phần với giá 160.000 USD. Tuy nhiên, ngay hôm sau, ngày 07/10/2008, các bên lại ký tiếp một văn bản thỏa thuận mới thay thế thỏa thuận cũ, điều chỉnh giá trị giai đoạn 2 xuống còn 1.290.716,57 USD cho 31 cổ phần (các điều khoản khác về số lượng cổ phần và các giai đoạn còn lại vẫn giữ nguyên).
Đến ngày 29/12/2008, theo đề nghị của Công ty Đ2 nhằm hoàn tất thủ tục pháp lý và tránh so bì về giá chuyển nhượng với các cổ đông khác, ông P. và bà D. đã ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phần chính thức cho Công ty Đ2 với giá niêm yết 5.358 USD/cổ phần. Hợp đồng này ghi nhận ông P. chuyển nhượng 248 cổ phần và bà D. chuyển nhượng 104 cổ phần (tổng cộng 352 cổ phần) cho Công ty Đ2. Theo hợp đồng ngày 29/12/2008, Công ty Đ2 đã thanh toán 1.698.486 USD, còn 187.530 USD chưa thanh toán vào thời điểm đó. Mặc dù chưa thanh toán đủ, hợp đồng chuyển nhượng này đã được Công ty Đ3 xác nhận và tiến hành thủ tục đăng ký thay đổi cổ đông tại Sở Kế hoạch và Đầu tư (tên gọi tại thời điểm đó) – đồng nghĩa với việc cổ phần đã sang tên sang Công ty Đ2.
Sau khi chuyển nhượng, giữa các bên nảy sinh mâu thuẫn về việc thực hiện thỏa thuận. Ông P. và bà D. cho rằng Công ty Đ2 đã không thanh toán đúng giá mua như cam kết ban đầu trong văn bản thỏa thuận ngày 06/10/2008. Họ viện dẫn rằng tổng số tiền Công ty Đ2 trả theo hợp đồng chính thức, kể cả nếu trả đủ, vẫn thấp hơn nhiều so với giá trị thỏa thuận ban đầu cho số cổ phần đó. Ngoài ra, ông P. và bà D. còn cho rằng họ có thỏa thuận về một khoản “thù lao dịch vụ” – cụ thể, nếu Công ty Đ2 mua thành công 317 cổ phần từ một cổ đông khác (một cổ đông trong nước ký hiệu là “C”), thì ông P. và bà D. sẽ được hưởng phí dịch vụ. Họ khẳng định Công ty Đ2 đã nhận chuyển nhượng thành công số cổ phần này nhưng chưa thanh toán đủ khoản phí dịch vụ 817.942 USD, mới chỉ trả 471.504 USD, còn thiếu 346.438 USD.
Do tranh chấp, ông P. và bà D. khởi kiện ra tòa, yêu cầu: (1) Hủy bỏ các văn bản thỏa thuận ngày 06/10/2008, 07/10/2008 và hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 29/12/2008; (2) Khôi phục lại tư cách cổ đông cho họ (tức hoàn trả lại số cổ phần đã chuyển nhượng); (3) Buộc Công ty Đ2 thanh toán khoản phí dịch vụ 346.438 USD còn thiếu nêu trên. Vụ việc kéo dài qua nhiều năm do vướng mắc tố tụng và việc tách riêng yêu cầu hủy nghị quyết đại hội đồng cổ đông năm 2010 của Công ty Đ3 thành một vụ án khác (liên quan đến cuộc họp cổ đông mà ông P., bà D. cho rằng đã được tổ chức không đúng quy định khi họ không còn cổ phần). Đến ngày 21/01/2025, Tòa án nhân dân Cấp cao tại TP.HCM (phiên phúc thẩm) đã tuyên bản án số 04/2025/KDTM-PT, bác toàn bộ yêu cầu của ông P. và bà D. Cụ thể, tòa đình chỉ yêu cầu hủy bỏ thỏa thuận ngày 07/10/2008 do quá thời hiệu khởi kiện, đồng thời không chấp nhận yêu cầu hủy bỏ thỏa thuận ngày 06/10/2008, hủy hợp đồng 29/12/2008 và khôi phục cổ phần cho nguyên đơn[1].
Rủi ro pháp lý khi có nhiều hợp đồng trong cùng một giao dịch M&A
Từ vụ án trên, có thể thấy rõ những rủi ro tiềm ẩn khi trong cùng một giao dịch M&A các bên lại tồn tại nhiều hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận khác nhau.
Hiệu lực pháp lý chồng chéo và mâu thuẫn giữa các văn bản
Trong một giao dịch M&A, thông thường các bên chỉ ký kết một hợp đồng chính thức quy định rõ các điều khoản chuyển nhượng. Tuy nhiên, trong vụ án trên, có tới ba văn bản khác nhau: hai bản thỏa thuận đầu tiên (06/10 và 07/10/2008) và một hợp đồng chính thức (29/12/2008). Việc tồn tại nhiều văn bản khác nhau đã dẫn đến chồng chéo và mâu thuẫn về nội dung mà các bên phải thực hiện. Trên thực tế, văn bản thỏa thuận ngày 07/10/2008 đã tuyên bố thay thế tất cả thỏa thuận trước đó, tức là thay cho bản 06/10/2008. Mặc dù vậy, cả hai văn bản thỏa thuận này vẫn được lưu hành và được nguyên đơn viện dẫn khi tranh chấp xảy ra. Tòa án xác định cả văn bản thỏa thuận 06/10, 07/10 và hợp đồng 29/12/2008 đều được ký kết tự nguyện, hợp pháp và có hiệu lực kể từ thời điểm ký. Như vậy, rủi ro đầu tiên là việc các văn bản này có nội dung không đồng nhất nhưng đều có giá trị pháp lý, khiến các bên không rõ phải tuân theo thỏa thuận nào nếu xảy ra vi phạm.
Tòa án phúc thẩm đã chỉ ra rằng nguyên đơn và bị đơn không thống nhất với nhau về quá trình thỏa thuận giá – mỗi bên viện dẫn một con số khác nhau (nguyên đơn cho rằng giá thỏa thuận là 7.938 USD/cổ phần, bị đơn cho rằng giá là 5.358 USD/cổ phần theo hợp đồng). Tuy nhiên, hợp đồng cuối cùng bằng văn bản (29/12/2008) lại không hề ghi nhận mức giá 7.938 USD/cổ phần nào như nguyên đơn trình bày, và cũng không có chứng cứ nào khác thể hiện việc các bên thống nhất mức giá cao hơn ngoài hợp đồng. Điều này cho thấy, khi có nhiều hợp đồng/văn bản song song, nếu nội dung mâu thuẫn hoặc không được tái khẳng định một cách rõ ràng, thì văn bản chính thức cuối cùng thường sẽ được tòa án xem là căn cứ mang tính quyết định của vụ việc. Các thỏa thuận miệng hoặc thỏa thuận "ngầm hiểu" ngoài hợp đồng rất khó được thừa nhận nếu không được ghi vào tài liệu có giá trị pháp lý bằng văn bản.
Khó khăn trong việc chứng minh "thỏa thuận thật sự"
Một rủi ro pháp lý lớn khác là khó khăn trong chứng minh đâu mới là thỏa thuận thực sự giữa các bên khi có nhiều tài liệu khác nhau. Trong vụ án này, ông P. và bà D. cho rằng giá trị thực sự mà hai bên thống nhất cao hơn nhiều so với giá ghi trong hợp đồng 29/12/2008, và việc ký hợp đồng giá thấp chỉ nhằm mục đích thực hiện thủ tục. Tuy nhiên, tất cả nội dung văn bản có chữ ký các bên lại không ghi nhận rõ việc sẽ có phần giá trị chênh lệch hay khoản thanh toán bổ sung nào. Theo đó, hội đồng xét xử nhận định lời trình bày của nguyên đơn về giá 7.938 USD/cổ phần không có căn cứ, do bị đơn không thừa nhận và nguyên đơn không xuất trình được chứng cứ để chứng minh cho mức giá ngầm định giữa các bên.

Việc tồn tại nhiều hợp đồng/thỏa thuận trong một giao dịch nhưng các bên không thống nhất được văn bản nào là căn cứ cuối cùng sẽ dẫn đến tranh chấp kéo dài và phức tạp.
Hệ quả khi các bên không thống nhất văn bản áp dụng
Việc tồn tại nhiều hợp đồng/thỏa thuận trong một giao dịch nhưng các bên không thống nhất được văn bản nào là căn cứ cuối cùng sẽ dẫn đến tranh chấp kéo dài và phức tạp. Trong trường hợp này, phải mất hơn 15 năm (2008–2023) vụ việc mới đi đến hồi kết, với nhiều cấp tòa xét xử. Nguyên nhân cốt lõi là mỗi bên dựa vào một văn bản khác nhau để bảo vệ quyền lợi của mình: ông P. và bà D. bám vào thỏa thuận ngày 06/10/2008 (và phần nào 07/10/2008) để cho rằng Công ty Đ2 chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toán đầy đủ; ngược lại Công ty Đ2 chỉ công nhận nội dung trong hợp đồng 29/12/2008 và khẳng định đã thanh toán xong theo hợp đồng đó.
Hậu quả dễ thấy là chi phí và thời gian tố tụng tốn kém cho cả hai bên, trong khi dự án đầu tư có thể bị đình trệ, công ty mục tiêu (Công ty Đ3) lâm vào tình trạng bất ổn cổ đông trong thời gian dài. Mặt khác, sự không rõ ràng về văn bản áp dụng cũng khiến phán quyết của tòa án dễ nghiêng về hướng giữ nguyên hiện trạng hơn là hủy bỏ giao dịch. Quả thực, Tòa Cấp cao đã quyết định không hủy hợp đồng và không khôi phục cổ phần cho nguyên đơn, một phần vì không có cơ sở xác định vi phạm hợp đồng từ phía bị đơn. Tòa án nhìn nhận rằng các văn bản ký kết đều hợp lệ và bị đơn đã thanh toán đủ theo hợp đồng cuối cùng, do đó không có căn cứ để hủy. Nếu các bên ngay từ đầu có một hợp đồng duy nhất, rõ ràng, thì bên bán có lẽ đã tránh được tranh chấp kéo dài và ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của mình.
M&A không phải là giao dịch đơn giản
Giao dịch mua bán cổ phần/phần vốn góp của một doanh nghiệp không phải là việc mua bán một tài sản đơn giản. Mà đây là một giao dịch phức tạp, kéo dài gồm nhiều quy định và quy trình khác nhau. Do đó, các doanh nghiệp và nhà đầu tư khi tham gia giao dịch M&A cần hết sức cẩn trọng để có thể đưa thương vụ M&A mà mình tham gia “cập bến” an toàn. Và một trong những điều cốt yếu mà các bên trong giao dịch M&A cần ghi nhớ là hợp đồng càng rõ ràng, đơn giản, thống nhất bao nhiêu, rủi ro pháp lý càng giảm bấy nhiêu. Thực hiện được điều này, doanh nghiệp và nhà đầu tư mới thực sự bảo vệ được quyền lợi của mình và tránh lặp lại những bài học đắt giá như vụ án nêu trên.
Luật sư Nguyễn Văn Phúc
Công ty Luật TNHH HM&P
[1] https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1724291t1cvn/chi-tiet-ban-an, truy cập lần cuối ngày 08/03/2026.
