Quyền sở hữu trí tuệ liên quan tới chương trình máy tính, một số điểm cần lưu ý đối với doanh nghiệp công nghệ thông tin

Tài nguyên
Quyền sở hữu trí tuệ liên quan tới chương trình máy tính, một số điểm cần lưu ý đối với doanh nghiệp công nghệ thông tin
Ngày đăng: 30/08/2023

    Công nghệ thông tin là một trong những lĩnh vực đóng vai trò khá quan trọng đối với sự phát triển kinh tế – xã hội không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các quốc gia khác trên thế giới. Với đặc thù là các hoạt động sử dụng và tạo ra một lượng lớn thông tin, việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là vấn đề nhận được nhiều sự quan tâm từ các doanh nghiệp công nghệ thông tin.

    Trong bài viết này, HM&P sẽ cung cấp các lưu ý về quyền sở hữu trí tuệ đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, đặc biệt liên quan đến bảo hộ chương trình máy tính do doanh nghiệp sản xuất.

     

    Tranh chấp sở hữu trí tuệ liên quan đến chương trình máy tính thuộc sở hữu doanh nghiệp trên thực tế

    Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng[1]. Công nghệ thông tin là ngành kinh tế - kỹ thuật công nghệ cao sản xuất và cung cấp sản phẩm công nghệ thông tin, bao gồm sản phẩm phần cứng, phần mềm và nội dung thông tin số[2].

    Thực tế, bởi tính chất của quyền sở hữu trí tuệ là quyền đối với tài sản là trí tuệ do con người sáng tạo ra, vậy nên việc kiểm soát các hành vi vi phạm của cá nhân, tổ chức đối với quyền này không phải là điều dễ dàng.

    Đơn cử tranh chấp giữa Cổng ty Cổ phần Vay Mượn (“Công ty Vay Mượn”) thuộc sở hữu của tập đoàn NextTech và một công ty start-up vào thời điểm năm 2018 là Công ty Fiin. Theo đó, vào tháng 5/2018, Công ty Vay Mượn đã phát hiện Công ty Fiin sắp ra mắt một dịch vụ giống hệt VayMuon.vn. Đặc biệt là các lãnh đạo Công ty Fiin bao gồm một số cá nhân là nhân viên cũ của tập đoàn NextTech. Chính vì vậy mà Công ty Vay Mượn có lý do để cho rằng các cựu nhân viên này đã mang thành phần thiết kế và phần mềm của VayMuon.vn để tạo ra một sản phẩm mới[3].

    Có thể thấy, trong thời gian vẫn còn hợp đồng lao động với doanh nghiệp, người lao động của doanh nghiệp – những người trực tiếp sáng tạo, hoặc quản lý, nắm giữ thông tin sản phẩm có thể dễ dàng tiếp cận với các sản phẩm trí tuệ của doanh nghiệp. Sau đó, họ có thể có hành vi vi phạm luật sở hữu trí tuệ khi xâm phạm đến quyền tác giả[4] đối với thiết kế và phần mềm của doanh nghiệp.

     

    Chủ sở hữu tài sản trí tuệ đối với sản phẩm do người lao động sáng tạo trong quan hệ lao động

    Theo quy định Bộ luật Lao động 2019, “người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động”. Đồng thời, Điều 222 của Bộ luật Dân sự 2015 quy định “người tiến hành hoạt động sáng tạo có quyền sở hữu đối với tài sản có được từ hoạt động sáng tạo theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ”. Như vậy, theo các quy định này, việc xác định ai là chủ sở hữu tài sản là các sản phẩm trí tuệ sẽ được thực hiện theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ.

    Liên quan đến quyền tác giả, Điều 39 Luật Sở hữu trí tuệ 2005[5] quy định tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là người thuộc tổ chức mình là chủ sở hữu của tất cả các quyền tài sản (quyền thu các lợi ích tài chính từ tác phẩm) và quyền công bố tác phẩm hoặc cho người khác công bố tác phẩm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

    Như vậy, trong trường hợp người lao động tạo ra sản phẩm là tài sản trí tuệ như phần mềm, phần cứng… trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp công nghệ thông tin, chủ sở hữu đối với tác phẩm đó sẽ là doanh nghiệp công nghệ thông tin, bao gồm quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm[6] và các quyền tài sản khác tại Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác). Người lao động là tác giả, trong trường hợp này chỉ được hưởng các quyền nhân thân còn lại bao gồm (i) quyền đặt tên cho tác phẩm; (ii) quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; và (iii) bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả[7].

    Đăng ký quyền tác giả đối với chương trình máy tính

    Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 đưa ra định nghĩa[8]:

    “Chương trình máy tính là tập hợp các chỉ dẫn được thể hiện dưới dạng lệnh, mã, lược đồ hoặc dạng khác, khi gắn vào một phương tiện, thiết bị được vận hành bằng ngôn ngữ lập trình máy tính thì có khả năng làm cho máy tính hoặc thiết bị thực hiện được công việc hoặc đạt được kết quả cụ thể. Chương trình máy tính được bảo hộ như tác phẩm văn học, dù được thể hiện dưới dạng mã nguồn hay mã máy”.

    Ngoài ra, Luật Sở hữu trí tuệ quy định chương trình máy tính là một trong các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả[9]. Khác với các quyền sở hữu trí tuệ khác, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký[10]. Như vậy, chương trình máy tính khi được sáng tạo ra và được thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định là đã được bảo hộ theo luật mà không cần phải thực hiện thủ tục đăng ký. Tuy nhiên, như đã đề cập, sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực rất đặc thù mà việc ngăn chặn các cá nhân, tổ chức không xâm phạm đến quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp công nghệ thông tin là không dễ dàng. Do đó, để bảo đảm lợi ích của mình cũng như tạo căn cứ vững chắc khi xảy ra tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ đối với chương trình máy tính, chủ sở hữu chương trình máy tính trong trường hợp này cần thiết phải thực hiện đăng ký quyền tác giả tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

     

    Bảo hộ chương trình máy tính dưới danh nghĩa sáng chế

    Khoản 2 Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ quy định chương trình máy tính là đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế. Mặc dù vậy, theo Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế, ban hành kèm theo Quyết định 487/QĐ-SHTT ngày 31/3/2010 và Phụ lục I về Hướng dẫn xác định đối tượng được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế liên quan đến chương trình máy tính, ban hành kèm theo Quyết định 6193/QĐ-SHTT ngày 31/12/2021 của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, nếu đối tượng yêu cầu bảo hộ có đặc tính kỹ thuật và thực sự là một giải pháp kỹ thuật, nhằm giải quyết một vấn đề kỹ thuật bằng một phương tiện kỹ thuật để tạo ra một hiệu quả kỹ thuật thì nó có thể được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế[11].

    Tuy nhiên, việc bảo hộ chương trình máy tính dưới danh nghĩa sáng chế về cơ bản vẫn còn nhiều nội dung chưa rõ ràng và phụ thuộc vào quan điểm, nhận định khác nhau của bộ phận giải quyết hồ sơ thuộc cơ quan có thẩm quyền. Do đó, khi đăng ký bảo hộ chương trình máy tính dưới danh nghĩa sáng chế, doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ càng các quy định, lưu ý được đề cập cụ thể trong các Quy chế và Hướng dẫn kể trên của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam.

    Nhìn chung, so với việc đăng ký bảo hộ chương trình máy tính dưới danh nghĩa sáng chế thì việc đăng ký bảo hộ quyền tác giả sẽ thuận lợi hơn, cả về căn cứ thực hiện, quy trình thực hiện và thời gian thực hiện các thủ tục. Trong khi thời gian đăng ký sáng chế tại Việt Nam sẽ kéo dài ít nhất là 37 tháng[12] (bao gồm thời gian công bố đơn và thời gian thẩm định nội dung), thì việc đăng ký quyền tác giả kéo dài khoảng 15 ngày làm việc[13] (doanh nghiệp lưu ý thời hạn giải quyết trên thực tế có thể kéo dài hơn do số lượng hồ sơ cần giải quyết hiện nay tại cơ quan có thẩm quyền là khá lớn). Bên cạnh đó, chi phí đăng ký bảo hộ quyền tác giả cũng tiết kiệm hơn so với đăng ký sáng chế, cụ thể, theo quy định tại Điều 4 Thông tư 211/2016/TT-BTC, lệ phí đăng ký quyền tác giả đối với chương trình máy tính là 600.000 đồng, trong khi theo quy định tại Biểu mức thu phí, lệ phí sở hữu công nghiệp, ban hành kèm theo Thông tư 263/2016/TT-BTC, lệ phí cho toàn bộ thủ tục đăng ký sáng chế tối thiểu vào khoảng 1.770.000 đồng.

     

    Tóm lại, việc xác định được chính bản thân doanh nghiệp mới là chủ sở hữu đối với các quyền tài sản và quyền công bố tác phẩm hoặc cho người khác công bố tác phẩm là các chương trình máy tính, đồng thời thực hiện các thủ tục đăng ký quyền tác giả hoặc đăng ký sáng chế sẽ giúp doanh nghiệp có đầy đủ các cơ sở để bảo vệ mình khi phát sinh tranh chấp với người lao động (người đã sáng tạo nên các sản phẩm này) hoặc các doanh nghiệp khác. Điều này rất quan trọng đối với các doanh nghiệp, bởi lẽ việc theo đuổi các vụ kiện, đặc biệt trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ thường khiến cho doanh nghiêp tiêu tốn nhiều nguồn lực của mình.

     

     


    [1] Khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022 (“Luật sở hữu trí tuệ 2005”).

    [2] Khoản 9 Điều 4 Luật Công nghệ thông tin 2006.

    [4] Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

    [5] Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

    [6] Khoản 3 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

    [7] Khoản 1, 2, 3 Điều 19 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

    [8] Khoản 1 Điều 22 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

    [9] Điểm m Khoản 1 Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

    [10] Khoản 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

    [11] Điều 5.8.2.5 Quy chế thẩm định đơn đăng ký sáng chế, ban hành kèm theo Quyết định 487/QD-SHTT ngày 31/3/2010 của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam.

    [12] Khoản 2 Điều 110, Điểm a Khoản 2 Điều 119 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

    [13] Điều 52 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.