Gần hai thập kỷ thi hành Luật Luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung 2012, khung pháp lý nhằm quản lý và hỗ trợ cho luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đồng hành cùng sự phát triển của ngành dịch vụ pháp lý. Tuy nhiên, văn bản này vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Những bất cập trong cách hiểu và vận dụng luật, cùng với một số quy định không còn phù hợp với thực tiễn phát triển nghề luật sư, … đòi hỏi phải có sự điều chỉnh kịp thời và phù hợp. Trên tinh thần đó, tham luận này tập trung vào việc đóng góp ý kiến cho dự thảo đề cương chi tiết Luật Luật sư, nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với nghề luật sư. Để đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh chóng của đội ngũ luật sư và sự hội nhập quốc tế sâu rộng, tham luận này sẽ đề cập đến các quy định quản lý hiện hành, các đề xuất bổ sung trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước cũng như những hạn chế và thách thức mà ngành luật đang đối mặt. Thông qua đó, tác giả mong muốn cung cấp những góc nhìn toàn diện và những khuyến nghị nhằm hoàn thiện khung pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của nghề luật sư tại Việt Nam.

1. Quản lý Nhà nước về luật sư và hoạt động hành nghề luật sư
Về quy định trong công tác quản lý luật sư và hành nghề luật sư, Luật Luật sư 2006 sửa đổi, bổ sung 2012 (“Luật Luật sư”) quy định trách nhiệm quản lý Nhà nước và trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư tại Chương VII. Trong đó, Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư, ngoài ra còn có các bộ ngành và các tổ chức nghề luật sư. Luật quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ Tư pháp, các bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng như công tác phối hợp quản lý giữa các cơ quan với nhau trong hoạt động quản lý và hành nghề luật sư. Dự thảo đề cương chi tiết Luật Luật sư (“Dự thảo”) đã đề xuất bổ sung thêm trách nhiệm của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp và thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố; đề xuất bổ sung thẩm quyền cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện, phân cấp cơ quan này được thực hiện kiểm tra về tổ chức và hoạt động của luật sư trên địa bàn.
Việc bổ sung thêm quy định về thẩm quyền và trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước nhìn chung là phù hợp với thực tiễn quản lý luật sư và hoạt động hành nghề luật sư. Số lượng luật sư cả nước hiện nay đang tăng lên nhanh chóng, cùng với sự phát triển và tốc độ hội nhập quốc tế sâu rộng của xã hội, đã đặt ra yêu cầu cấp thiết cần nâng cao hiệu quả, năng lực quản lý Nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương. Tinh thần của đề xuất sẽ góp phần nâng cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan Nhà nước trong quá trình quản lý (ví dụ: giúp tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, bảo đảm tổ chức và hoạt động của luật sư được thực hiện theo đúng quy định pháp luật). Sự chặt chẽ và phân cấp từ trung ương đến địa phương tạo điều kiện cho cơ quan Nhà nước thực thi và giám sát tốt hơn, từ đó có phương án xử lý phù hợp đối với các cá nhân vi phạm, cũng như những sai phạm phát sinh trong quá trình hoạt động hành nghề luật sư. Hơn nữa, thực tiễn cho thấy cơ quan quản lý Nhà nước (từ cấp trung ương đến địa phương) vẫn đang gặp khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý thường xuyên bởi vì không đủ nguồn lực, nhất là ở các địa phương có hoạt động hành nghề sôi động và đội ngũ luật sư đông đảo như Thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Đáng quan ngại hơn chính là việc cơ quan quản lý Nhà nước tại một số địa phương chưa thật sự sát sao, quan tâm và tạo điều kiện phát triển nghề luật sư. Cùng với đó, công tác kiểm tra, xử lý vi phạm tại nhiều tỉnh, thành phố chưa được thực hiện thường xuyên và thường chỉ mang tính hình thức. Do đó, việc bổ sung thẩm quyền, phân cấp, phân quyền cho các cơ quan có liên quan sẽ góp phần đảm bảo chất lượng quản lý luật sư và hoạt động hành nghề luật sư.
Tuy nhiên, khi đối chiếu với một số quy định hiện hành tại Luật Luật sư cũng như xét về mặt thực tiễn, có thể nhận thấy một số đề xuất điều chỉnh, bổ sung của Dự thảo đề cương chi tiết là chưa phù hợp.

Đầu tiên, về cách đặt tiêu đề tên chương VII “Quản lý luật sư và hành nghề luật sư”, tác giả cho rằng việc sử dụng thêm cụm từ “và hành nghề luật sư” là không phù hợp và cần lược giản. Vì khi đề cập đến quản lý luật sư, nội hàm của hoạt động quản lý luật sư đương nhiên bao gồm cả hành nghề luật sư và ngược lại, quản lý hành nghề luật sư bao gồm cả quản lý luật sư.
Tiếp theo, Dự thảo đã đề xuất bổ sung trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong việc “xem xét, đình chỉ tư cách Chủ nhiệm Đoàn Luật sư, thành viên Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư…”. Song, Luật Luật sư lại quy định rằng Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Đề án tổ chức đại hội (điểm b khoản 4 Điều 83 Luật Luật sư), trong đó có đề án nhân sự, phương án xây dựng nhân sự và phê duyệt kết quả Đại hội bầu Chủ nhiệm, thành viên Ban chủ nhiệm Đoàn Luật sư. Do đó, đề nghị bổ sung trách nhiệm của Bộ Tư pháp là chưa phù hợp, không rõ ràng và có thể gây nên bất cập, chồng chéo trong công tác quản lý. Là cơ quan thực hiện quản lý Nhà nước đối với nhân sự và hoạt động hành nghề luật sư tại địa phương, trách nhiệm/thẩm quyền này nên được trao cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố. Tác giả cho rằng, Nhà nước nên xây dựng quy chế trong đó trao quyền chủ động cho các địa phương vì tính chất quản lý trực tiếp và để nhằm mục tiêu can thiệp kịp thời, nhanh chóng, phù hợp. Các tổ chức hành nghề luật sư, các luật sư và cơ quan, tổ chức có liên quan đã phản ánh các vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện các quy định của Luật Luật sư hiện nay, do đó nếu phức tạp hoá quy trình thủ tục sẽ khiến cả việc quản lý và thi hành đều gặp khó khăn.
Ngoài ra, đề xuất bổ sung thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện kiểm tra tổ chức hoạt động của luật sư cũng là không phù hợp trên thực thực tiễn, vì:
Thứ nhất, Dự thảo chưa quy định rõ thẩm quyền, nội dung của Uỷ ban nhân dân cấp huyện khi thực hiện kiểm tra tổ chức hoạt động, cũng như chưa quy định cơ quan giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện thực hiện việc kiểm tra. Trên thực tế, Phòng Tư pháp – cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện – sẽ là nơi được phân đảm nhiệm trọng trách này. Tuy nhiên, những hạn chế về chuyên môn, trình độ cũng như thẩm quyền sẽ khiến cán bộ cơ quan này khó lòng thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả. Cụ thể, Phòng Tư pháp hiện tại chủ yếu tập trung vào các công việc hành chính và tư vấn pháp lý đơn giản. Họ có thể sẽ không bảo đảm được về kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm thực tiễn trong việc kiểm tra và giám sát các hoạt động chuyên nghiệp của luật sư và công ty luật. Điều này sẽ dẫn đến nguy cơ các cuộc kiểm tra không đạt được mục tiêu mong muốn, gây lãng phí nguồn lực và thời gian của cả cơ quan quản lý và đối tượng bị kiểm tra. Một số Uỷ ban nhân dân cấp huyện hiện nay còn cần tham vấn ý kiến của luật sư đối với các vấn đề pháp lý phát sinh trong hoạt động. Vấn đề này có thể phản ánh khả năng xử lý các vấn đề pháp lý phức tạp của các cán bộ tư pháp cấp huyện còn hạn chế.
Trong khi đó, việc giao thêm thẩm quyền kiểm tra cho Uỷ ban nhân dân cấp huyện mà không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nguồn nhân lực và cơ chế phối hợp sẽ tạo ra sự chồng chéo trong quản lý, gây phiền hà và khó khăn cho các công ty luật. Các cơ quan chuyên trách ở cấp cao hơn, như Sở Tư pháp và các tổ chức nghề nghiệp luật sư, có kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp hơn để thực hiện các nhiệm vụ này. Để đảm bảo hiệu quả trong quản lý và giám sát hoạt động của luật sư, cần có những giải pháp thay thế hợp lý. Chẳng hạn, có thể tăng cường vai trò của Sở Tư pháp trong việc kiểm tra, đồng thời tạo điều kiện để các tổ chức nghề nghiệp luật sư tham gia vào quá trình này. Do đó, cần cân nhắc và điều chỉnh các quy định sao cho phù hợp với thực tiễn, đảm bảo mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động hành nghề luật sư tại Việt Nam.
Thứ hai, đề xuất này sẽ làm hạn chế quyền và trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư. Hiện nay, các công ty luật và luật sư đã và đang chịu sự quản lý của nhiều cấp từ trung ương đến địa phương, bao gồm Bộ Tư pháp, Liên đoàn Luật sư Việt Nam, và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh (Sở Tư pháp). Việc thêm Uỷ ban nhân dân cấp huyện (Phòng Tư pháp) vào danh sách này sẽ gây thêm áp lực và gánh nặng cho các cá nhân và tổ chức hành nghề luật sư, đồng thời hạn chế khả năng tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp luật sư. Đồng thời, quy định như vậy còn vi phạm nguyên tắc quản lý khi xây dựng luật, vốn nhấn mạnh sự kết hợp giữa quản lý Nhà nước và chế độ tự quản của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Dù hiểu rằng sự phân cấp quản lý nhằm thể hiện ý chí và sự cương quyết của Nhà nước trong việc siết chặt quản lý, phòng chống và đẩy lùi việc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư, nhưng tác giả cho rằng, sửa đổi luật cần chú trọng tạo hành lang pháp lý thông thoáng để tổ chức xã hội - nghề nghiệp phát huy tối đa tính tự quản của mình. Tinh thần này cũng phù hợp với định hướng tinh giản biên chế bộ máy của Nhà nước và quan điểm nâng cao vai trò, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư như tinh thần tại Nghị quyết số 27-NQ/TW của Đảng, cũng như đề xuất của Dự thảo chi tiết tại Điều 89, quy định về “Trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư”. Việc tạo điều kiện cho các tổ chức này tự quản lý không chỉ giảm bớt gánh nặng hành chính cho Nhà nước mà còn giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả của ngành luật sư trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Cần ghi nhận thêm rằng, mặc dù Dự thảo vẫn giữ quy định về vai trò tự quản tại Điều 89 “Trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư” nhưng trên thực tế, một số quy định liên quan đến phạm vi trách nhiệm này chưa cụ thể hoặc không còn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và thực tiễn phát triển nghề luật sư ở Việt Nam. Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc quản lý luật sư và hành nghề luật sư, tuy nhiên chi tiết về nhiệm vụ phối hợp thi hành chưa được quy định rõ và có những điểm chồng lấn về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý Nhà nước và của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư trong việc quản lý và hành nghề luật sư. Đây cũng là yếu tố dẫn đến thực tiễn thi hành gặp khó khăn, tạo ra khoảng trống pháp lý trong quản lý và hạn chế quyền khiếu kiện các hành vi, quyết định hành chính xâm phạm quyền tiếp cận nghề nghiệp, trở thành luật sư và hành nghề luật sư của công dân và của luật sư. Một ví dụ điển hình là Đoàn Luật sư, vừa là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước, vừa là một tổ chức thực hiện chế độ tự quản. Trong quá trình hoạt động, Đoàn Luật sư đã không thể tránh khỏi hiện tượng lẫn lộn, lấn sân sang chức năng quản lý Nhà nước của các cơ quan có thẩm quyền khi ban hành các văn bản, quy định. Điều này không chỉ gây nhầm lẫn trong nhiệm vụ mà còn làm giảm hiệu quả quản lý.
Vì vậy, tác giả cho rằng, cần thiết phải quy định rõ về nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan quản lý Nhà nước ở trung ương và địa phương, làm rõ mối quan hệ giữa cơ quan quản lý Nhà nước và tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư để góp phần tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước và hoạt động tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Việc tạo điều kiện cho các tổ chức này tự quản lý không chỉ giảm bớt gánh nặng hành chính cho Nhà nước mà còn giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đảm bảo sự phát triển bền vững và hiệu quả của ngành luật sư trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Hướng quy định nêu trên cũng phù hợp với định hướng tinh giản biên chế bộ máy của Nhà nước và quan điểm nâng cao vai trò, trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư như tinh thần tại Nghị quyết số 27-NQ/TW của Đảng, cũng như đề xuất của Dự thảo được quy định chi tiết tại Điều 89, quy định về “Trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư”. Việc ban hành luật mới thay thế Luật Luật sư cần chú trọng tạo hành lang pháp lý thông thoáng để tổ chức xã hội - nghề nghiệp phát huy tối đa tính tự quản của mình.
2. Quy định hỗ trợ nghề luật sư và luật sư cần được chú trọng hơn nữa
Trong bối cảnh nền kinh tế phát triển và sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thách thức đặt ra cho luật sư và các công ty luật ngày càng lớn trong khi ngành dịch vụ pháp lý lại là một trong những ngành nghề tiềm ẩn nhiều rủi ro và đòi hỏi đáp ứng những điều kiện gắt gao trong quá trình hành nghề. Song, Nhà nước, chính quyền địa phương chưa có sự quan tâm phù hợp đối với đội ngũ luật sư và công ty/văn phòng luật sư (gọi chung là “công ty luật” hiện nay. Thiếu sót này cũng góp phần làm gia tăng tình trạng phát triển không đồng đều giữa các công ty luật hiện nay.

Hạn chế trong chính sách hỗ trợ của Nhà nước
Một trong những thách thức lớn nhất mà các công ty luật tại Việt Nam đang phải đối mặt là chưa nhận được sự quan tâm và hỗ trợ cần thiết từ các cơ quan Nhà nước. Đơn cử như TP. HCM – đầu tàu kinh tế của cả nước – hiện vẫn chưa có chính sách khuyến khích hay chương trình hỗ trợ phát triển dành riêng cho đội ngũ luật sư, các công ty luật trên địa bàn. Điều này không chỉ làm giảm động lực phát triển mà còn khiến các công ty luật gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn lực cần thiết như vốn, thông tin và cơ hội thị trường. Theo thống kê của Sở Tư pháp TP. HCM, đến ngày 15/7/2024, thành phố có hơn 2800 công ty luật và luật sư hành nghề với tư cách cá nhân[1]. Từ thực tiễn trên, có thể thấy sức ép cạnh tranh giữa các công ty là rất lớn khi nguồn cung lớn hơn cầu và trước những biến động của nền kinh tế thì sự cạnh tranh cung cấp dịch vụ pháp lý sẽ ngày càng khốc liệt hơn, đặc biệt với các công ty luật nhỏ và mới thành lập, những đơn vị thường gặp nhiều thách thức trong quá trình huy động vốn và tạo dựng mạng lưới khách hàng. Thiếu sự hỗ trợ từ các cơ quan Nhà nước cũng khiến nhiều công ty luật mới thành lập tại Việt Nam phải đối mặt với việc thiếu nguồn vốn đầu tư ban đầu. Không có các chương trình tài trợ hoặc ưu đãi thuế, các công ty này thường phải vay mượn từ các nguồn tư nhân với lãi suất cao, gây áp lực tài chính lớn, dẫn đến khó khăn trong việc duy trì hoạt động và mở rộng quy mô.
Vấn đề hỗ trợ cho luật sư chưa nhận được nhiều sự quan tâm của Nhà nước hay cơ quan lập pháp, cụ thể Luật Luật sư và gần đây nhất là Dự thảo cũng không quy định chi tiết về chính sách hỗ trợ cho luật sư. Luật Luật sư 2006 sửa đổi và bổ sung, đã thực hiện một số điều chỉnh cần thiết tại thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, các điều chỉnh này vẫn chưa thực sự toàn diện và chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của ngành nghề cũng như chưa hỗ trợ hiệu quả cho luật sư. Theo quy định hiện hành, yêu cầu người hành nghề phải đáp ứng những điều kiện, tiêu chuẩn gắt gao từ giai đoạn tập sự cho đến khi chính thức hành nghề luật sư tại Việt Nam. Quá trình này kéo dài nhiều năm nhưng không nhận được hỗ trợ đáng kể từ chính quyền địa phương.
Sau nhiều năm triển khai trên thực tế, có thể thấy Luật Luật sư hiện hành quy định một cách bao quát về trách nhiệm của Bộ Tư Pháp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc xây dựng các chính sách hỗ trợ phát triển nghề luật và trao quyền cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tại địa phương là chưa khả thi. Trong khi đó, Dự thảo cũng không có nhiều thay đổi khi tiếp tục kế thừa quy định của Luật Luật sư, ngoại trừ quy định tại Điều 88 của Dự thảo về việc hỗ trợ luật sư, công ty luật ở vùng sâu vùng xa đối với các chính sách hỗ trợ về thuế, thuê đất hay việc điều chỉnh, bổ sung hỗ trợ của Nhà nước trong việc đào tạo, bồi dưỡng luật sư để phục vụ hội nhập quốc tế. Chúng tôi cho rằng các quy định này cần được cụ thể và chi tiết hơn nữa trong việc xác định rõ trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với việc này.
Chính sách hỗ trợ chung có thể mang tính hai mặt
Chính sách hỗ trợ chung của Nhà nước đối với các công ty luật Việt Nam có thể mang tính hai mặt, đặc biệt trong bối cảnh các công ty luật quốc tế ngày càng gia nhập sâu vào thị trường Việt Nam. Những chính sách này, dù mang lại nhiều cơ hội, cũng đặt ra không ít thách thức, nhất là trong việc cạnh tranh giữa các công ty luật bản địa với các công ty luật nước ngoài tại Việt Nam, và giữa các công ty tư vấn và các công ty luật chuyên nghiệp.
Các công ty luật quốc tế thường có ưu thế về kinh nghiệm và nguồn lực tài chính, tạo ra sự chênh lệch đáng kể về khả năng cung cấp dịch vụ so với các công ty luật trong nước. Các công ty luật đa quốc gia như Baker McKenzie, A&O Shearman hay Tilleke & Gibbins đã thiết lập văn phòng tại Việt Nam và nhanh chóng chiếm lĩnh thị phần lớn nhờ uy tín và mạng lưới toàn cầu của họ. Quy mô nhân sự của các công ty này lên tới vài trăm người, giúp họ có khả năng cung cấp các dịch vụ pháp lý chất lượng cao, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và đáp ứng nhu cầu của các khách hàng đa quốc gia. Lực lượng nhân sự đông đảo giúp các công ty này thực hiện được những nhiệm vụ pháp lý phức tạp và đa dạng mà các công ty luật trong nước khó lòng theo kịp. Chưa kể hàng hoạt các công ty nước ngoài và trong nước hoạt động cung cấp các dịch vụ pháp lý dưới danh nghĩa các công ty tư vấn đang phát triển ngày càng rầm rộ và quy mô. Ngược lại, các công ty luật Việt Nam, do quy mô nhỏ và thiếu nguồn lực, thường gặp khó khăn trong việc cạnh tranh và duy trì khách hàng. Sự chênh lệch này không chỉ nằm ở quy mô và nguồn lực mà còn ở khả năng tiếp cận thông tin và thị trường. Các công ty luật quốc tế có mạng lưới thông tin toàn cầu và kinh nghiệm làm việc với nhiều khách hàng đa quốc gia, trong khi các công ty luật trong nước thường bị giới hạn bởi nguồn lực và mạng lưới khách hàng trong nước.

Do đó, chính sách hỗ trợ của Nhà nước, nếu không được cân nhắc một cách kỹ lưỡng, có thể chỉ phù hợp với nhóm công ty luật quy mô nhỏ, vừa hoặc mới thành lập. Các công ty luật lớn, có tiềm lực mạnh, có thể không thực sự hưởng lợi từ các chính sách này. Thiết nghĩ, hướng quy định trên cũng có thể mở rộng trong việc ghi nhận những chính sách chung bao gồm ưu đãi về thuế và trao thẩm quyền cho cơ quan Nhà nước ở địa phương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tư pháp) ban hành quy chế riêng, tùy thuộc vào sự phát triển của ngành pháp lý ở địa phương đó. Chẳng hạn, Điều 88 của Dự thảo sẽ không chỉ quy định việc xây dựng chính sách hỗ trợ về thuế, thuê đất đối với công ty luật ở vùng sâu vùng xa mà có thể bổ sung ưu đãi chung cho luật sư và công ty luật trên cả nước với mức độ ưu đãi thuộc về thẩm quyền quyết định của địa phương. Quy định như vậy sẽ giúp các chính sách hỗ trợ trở nên linh hoạt và phù hợp hơn với thực tiễn của từng khu vực. Tóm lại, chính sách hỗ trợ luật sư và các công ty luật tại Việt Nam cần được thiết kế một cách toàn diện và linh hoạt, để vừa tận dụng được cơ hội từ sự phát triển và hội nhập quốc tế, vừa giúp các công ty luật trong nước nâng cao năng lực cạnh tranh.
Ngoài ra, việc chú trọng đào tạo và bồi dưỡng luật sư là yếu tố then chốt để đảm bảo ngành pháp lý của Việt Nam phát triển bền vững và hiệu quả. Để nâng cao chất lượng của đội ngũ luật sư và các công ty luật trong nước, cần triển khai mạnh mẽ các chương trình hỗ trợ đào tạo và bồi dưỡng luật sư phục vụ hội nhập quốc tế. Một ví dụ điển hình là “Chương trình đào tạo luật sư phục vụ hội nhập quốc tế” của Học viện Tư pháp, triển khai từ năm 2017. Chương trình này đã đào tạo được nhiều thế hệ luật sư có nghiệp vụ giỏi, khả năng ngoại ngữ xuất sắc và am hiểu sâu sắc về pháp luật quốc tế. Những luật sư này đã hỗ trợ hiệu quả trong các vụ việc và tranh chấp có yếu tố nước ngoài, giúp nâng cao uy tín và chất lượng dịch vụ pháp lý của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, chỉ dựa vào một chương trình của Học viện Tư pháp là chưa đủ. Cần mở rộng chính sách đào tạo và bồi dưỡng này, không chỉ tập trung vào chương trình giảng dạy tại Học viện Tư pháp mà còn hỗ trợ các tổ chức xã hội nghề nghiệp khác như Câu lạc bộ Luật sư thương mại quốc tế Việt Nam (VBLC) và Đoàn Luật sư các tỉnh, thành phố. Những tổ chức này cần được hỗ trợ để tổ chức các khóa bồi dưỡng luật sư phục vụ hội nhập quốc tế, giúp nâng cao năng lực và kỹ năng cho đội ngũ luật sư trong nước. Chẳng hạn, VBLC đã có những sáng kiến trong việc tổ chức các hội thảo, khóa học về pháp luật thương mại quốc tế, giúp các luật sư cập nhật kiến thức và kỹ năng cần thiết để xử lý các vụ việc phức tạp có yếu tố nước ngoài. Đoàn Luật sư cũng cần được khuyến khích và hỗ trợ để tạo điều kiện cho các luật sư tham gia vào các khóa đào tạo chuyên sâu, giúp họ nắm vững các xu hướng và quy định pháp lý quốc tế mới nhất.
Thêm vào đó, việc hợp tác với các công ty luật quốc tế cũng là một hướng đi quan trọng. Các công ty luật Việt Nam cần tìm kiếm cơ hội hợp tác, trao đổi kinh nghiệm với các công ty luật hàng đầu thế giới. Điều này không chỉ giúp nâng cao trình độ chuyên môn của luật sư Việt Nam mà còn mở rộng mạng lưới quan hệ quốc tế, tạo ra những cơ hội mới cho sự phát triển của ngành pháp lý trong nước. Cuối cùng, sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc hỗ trợ kinh phí, cơ chế chính sách thuận lợi cho các chương trình đào tạo và bồi dưỡng luật sư là điều cần thiết, như một trong những ưu tiên hàng đầu để đảm bảo rằng ngành pháp lý Việt Nam có thể đáp ứng được các thách thức của quá trình hội nhập và phát triển. Những bước đi này sẽ giúp các công ty luật và luật sư Việt Nam không chỉ nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn khẳng định được vị thế của mình trên thị trường pháp lý quốc tế, đảm bảo một ngành pháp lý phát triển bền vững và hiệu quả.
Ngoài ra, việc kiểm soát chặt chẽ và nghiêm chỉnh các hoạt động của các công ty luật nước ngoài, các công ty tư vấn hoạt động dưới danh nghĩa các công ty luật trong việc tuân thủ các quy định của Luật Luật sư và các quy định có liên quan sẽ giúp lành mạnh hóa thị trường pháp lý Việt Nam, tạo ra sân chơi bình đẳng, minh bạch giữa tất cả các bên sẽ giúp cho các công ty luật trong nước phát triển một cách lớn mạnh trong thời gian tới.

Có thể thấy, Dự thảo đã bổ sung trách nhiệm và thẩm quyền cho các cơ quan Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả quản lý luật sư và hoạt động của luật sư. Tuy nhiên, một số đề xuất chưa hoàn toàn phù hợp và cần được xem xét lại để tránh chồng chéo và phức tạp hóa quy trình quản lý. Ngoài ra, chính sách hỗ trợ cần linh hoạt, phù hợp với từng địa phương và khuyến khích tinh thần tự quản của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp luật sư. Để ngành luật Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cần có biện pháp hỗ trợ toàn diện, từ đào tạo, bồi dưỡng đến chính sách ưu đãi trong hoạt động hành nghề và trên hết là một môi trường phát triển minh bạch và bình đẳng giữa các đơn vị hoạt động kinh doanh pháp lý với nhau. Chỉ khi đó, các luật sư, công ty luật trong nước mới có thể tận dụng hiệu quả cơ hội, vượt qua thách thức và phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.
Bài viết có sử dụng hình ảnh của Ban Truyền Thông, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Công ty Luật TNHH HM&P chân thành cảm ơn.
[1] Danh sách các luật sư hành nghề tư cách cá nhân và tổ chức hành nghề luật sư đang hoạt động trên địa bàn Thành phố cập nhật đến ngày 15/7/2024, [https://s.net.vn/hTL5], truy cập ngày 24/7/2024.
