Hoạt động vay trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn cho phát triển. Ngày 30/9/2022, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Thông tư số 12/2022/TT-NHNN (Thông tư 12), hướng dẫn quản lý ngoại hối đối với việc vay trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh. Thông tư này tập trung cải cách thủ tục hành chính (TTHC), bổ sung quy định về bảo đảm tài sản, xử lý trường hợp chia tách doanh nghiệp và cải tiến chế độ báo cáo. Sau hơn hai năm triển khai, Thông tư 12 đã góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn ngoại.

Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động cho thấy vẫn còn một số bất cập, như thời gian xử lý hồ sơ dài, hồ sơ phức tạp, chưa tận dụng tối đa công nghệ số và chưa phù hợp với một số hình thức vay mới như phát hành trái phiếu quốc tế. Xuất phát từ yêu cầu cải cách TTHC theo Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới xây dựng pháp luật và Nghị quyết 66/NQ-CP ngày 26/3/2025 về cắt giảm TTHC, NHNN đã soạn thảo và đề xuất Thông tư sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 12 (Dự thảo). Dự thảo nhằm bãi bỏ một số TTHC không cần thiết, đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến, cắt giảm thời gian xử lý và bổ sung quy định phù hợp thực tiễn. Bài viết này phân tích các thay đổi quan trọng trong Dự thảo để làm rõ những thay đổi quan trong của Dự thảo với mong muốn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Cải cách thủ tục hành chính trong bối cảnh số hóa
Một trong những điểm nhấn lớn nhất của Dự thảo là tập trung cải cách TTHC, nhằm giảm gánh nặng cho doanh nghiệp và tăng hiệu quả quản lý. Trước hết, Dự thảo bãi bỏ hai TTHC:
Thứ nhất, bãi bỏ việc đăng ký và đăng ký thay đổi tài khoản truy cập Trang Điện tử quản lý vay trả nợ nước ngoài (Điều 3 Dự thảo bãi bỏ Điều 10 Thông tư 12).
Dự thảo bỏ hẳn yêu cầu doanh nghiệp phải đăng ký tài khoản truy cập trang điện tử để khai báo thông tin khoản vay, do nay đã có thể sử dụng định danh tổ chức trên ứng dụng VneID. Đây là bước tiến lớn trong việc loại bỏ thủ tục chồng chéo, giúp doanh nghiệp giảm gánh nặng giấy tờ
Lý do là theo quy định mới về dịch vụ công điện tử, doanh nghiệp sử dụng định danh tổ chức trên ứng dụng VNeID, không cần khai báo thông tin khoản vay trước khi gửi hồ sơ giấy như trước. Điều này giúp tiết kiệm thời gian, giảm chi phí in ấn và di chuyển, phù hợp với Nghị quyết 66/NQ-CP về cắt giảm TTHC liên quan sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, Dự thảo triển khai cung cấp dịch vụ công trên môi trường điện tử toàn trình.
Doanh nghiệp có thể nộp hồ sơ trực tuyến qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia (CDVCQG) hoặc Cổng Dịch vụ công NHNN (sửa đổi Điều 7, Điều 15, Điều 18). Hồ sơ được số hóa dưới dạng văn bản điện tử định dạng PDF, với yêu cầu đảm bảo tính chính xác, toàn vẹn (Điều 1 Dự thảo). Ví dụ, đối với thỏa thuận vay, doanh nghiệp tạo hai tệp PDF: một từ file Word để tìm kiếm nội dung, và một từ scan ảnh màu chữ ký. Bên đi vay chịu trách nhiệm về dữ liệu số hóa, tránh tình trạng hồ sơ không khớp. Mẫu đơn TTHC được đơn giản hóa, giảm thông tin khai báo bằng cách tra cứu từ cơ sở dữ liệu (CSDL) đầu tư, doanh nghiệp, nội bộ NHNN (sửa đổi Phụ lục 01 thành Phụ lục I).
Dự thảo cũng cắt giảm thành phần hồ sơ (TPHS). Bãi bỏ các tài liệu có thể khai thác từ CSDL như giấy phép thành lập, chứng nhận đầu tư (sửa đổi Điều 16, Điều 19). Đối với thỏa thuận vay, doanh nghiệp có lựa chọn nộp bản tóm tắt thay vì toàn bộ văn bản, với các nội dung tối thiểu như số tiền, lãi suất, thời hạn, cách thức chuyển tiền, tham chiếu điều khoản (Điều 6 Dự thảo). Điều này giảm khối lượng hồ sơ, đặc biệt với thỏa thuận dày hàng trăm trang, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí photocopy và dịch thuật. Bên cạnh đó, Dự thảo cho phép doanh nghiệp tự dịch và tự chịu trách nhiệm từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà không cần phải sử dụng dịch vụ dịch thuật công chứng bên ngoài như trước đây.
Quan trọng hơn, thời gian xử lý TTHC được giảm từ 15 ngày xuống 10 ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ (sửa đổi khoản 3 Điều 15, khoản 3 Điều 18). Đối với khoản vay đã khai báo trên Trang Điện tử, thời gian trước đây là 12 ngày, nay thống nhất 10 ngày. Điều này cho thấy, các thay đổi này góp phần giảm chi phí tuân thủ, thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, phù hợp với quan điểm chỉ đạo bám sát thực tiễn và tái sử dụng dữ liệu. Theo ước tính, doanh nghiệp có thể tiết kiệm hàng nghìn giờ làm việc mỗi năm, tăng tính cạnh tranh khi tiếp cận vốn ngoại.

Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ
Bổ sung cơ chế quản lý thực tiễn phù hợp với hoạt động vay trả nợ
Bên cạnh cải cách TTHC, Dự thảo bổ sung nhiều quy định nhằm phù hợp hơn với thực tiễn, tập trung vào tài khoản vay trả nợ và các trường hợp đặc thù. Về tài khoản vay trả nợ bằng ngoại tệ (Điều 28), Dự thảo bổ sung nội dung chi hoàn trả khoản nhận nợ, lãi và phí phát sinh cho bên bảo đảm (điểm i khoản 2). Khoản nhận nợ phát sinh khi bên bảo đảm trả nợ thay doanh nghiệp, và trước đây chỉ quy định nguyên tắc hoàn trả qua tài khoản vay trả nợ, nhưng chưa liệt kê cụ thể. Bổ sung này đảm bảo thống nhất, giúp doanh nghiệp thực hiện dễ dàng hơn.
Đối với tài khoản bằng đồng Việt Nam (VNĐ) (Điều 29), Dự thảo bỏ cụm từ "bằng đồng Việt Nam" trong tiêu đề và mở rộng phạm vi sử dụng cho các khoản vay không đủ điều kiện đăng ký hoặc bị chấm dứt hiệu lực. Doanh nghiệp có thể chi trả nợ cho bên cho vay qua tài khoản này, sử dụng tỷ giá hạch toán của Bộ Tài chính. Ngoài ra, bổ sung chi thanh toán lãi, phí trên khoản nhận nợ (điểm c khoản 2), tương tự lý do ở Điều 28. Các thay đổi này giải quyết vướng mắc thực tiễn, như trường hợp vay ngắn hạn gia hạn thành trung dài hạn hoặc vay từ lợi nhuận đầu tư trực tiếp.
Dự thảo cũng làm rõ trường hợp xóa nợ hoặc giảm nợ do xử lý tài sản bảo đảm không phải đăng ký thay đổi, mà chỉ khai báo trên Trang Điện tử (bổ sung khoản 4 Điều 17). Điều này tránh lặp lại TTHC, giảm gánh nặng cho doanh nghiệp. Về chuyển tiền trả nợ trái phiếu quốc tế (TPQT), Dự thảo bổ sung tổ chức trung gian (như sàn giao dịch) vào khoản 3 Điều 32, cho phép trả nợ trước hạn bằng mua lại trái phiếu. Trước đây, chỉ qua tài khoản bên cho vay hoặc đại lý, nay linh hoạt hơn, phù hợp thị trường quốc tế.
Về chế độ báo cáo, Dự thảo bổ sung tỷ giá quy đổi khi lập báo cáo vay trả nợ (khoản 4 Điều 41), sử dụng tỷ giá hạch toán Bộ Tài chính nếu đồng tiền vay khác hướng dẫn. Điều này thống nhất với quy định tính giới hạn vay (Thông tư 08/2023) và trả nợ trường hợp chấm dứt hiệu lực (Điều 32 Thông tư 12). Đồng thời, trách nhiệm phối hợp giữa các đơn vị NHNN được sửa đổi (Điều 49), thay Cơ quan Thanh tra giám sát bằng Cục Quản lý giám sát Tổ chức tín dụng và Vụ Chính sách tiền tệ, phù hợp tổ chức mới sau sắp xếp.
Kỳ vọng từ Dự thảo mới về vay trả nợ nước ngoài
Các thay đổi trong Dự thảo mang lại lợi ích lớn cho doanh nghiệp. Cải cách TTHC giảm chi phí tuân thủ ước tính hàng tỷ đồng/năm, tăng tốc độ xử lý hồ sơ, khuyến khích vay vốn ngoại cho dự án lớn. Số hóa hồ sơ thúc đẩy kinh tế số, phù hợp Chiến lược quốc gia về Cách mạng công nghiệp 4.0. Về thực tiễn, bổ sung quy định tài khoản và xóa nợ giúp doanh nghiệp linh hoạt, giảm rủi ro pháp lý. Theo NHNN, Dự thảo góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật vay trả nợ, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững và đáp ứng yêu cầu quản lý trong bối cảnh mới.
Tuy nhiên, Dự thảo cũng mang lại không ít thách thức như bảo mật dữ liệu số hóa và đào tạo doanh nghiệp sử dụng CDVCQG.
Dự thảo dự kiến hiệu lực từ 2025, với điều khoản chuyển tiếp cho hồ sơ vay, trả nợ nước ngoài đang xử lý tại NHNN.
Dự thảo sửa đổi Thông tư 12 là bước tiến quan trọng của NHNN trong việc hiện đại hóa quản lý ngoại hối. Các thay đổi tập trung cải cách TTHC, số hóa và phù hợp thực tiễn sẽ tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thu hút vốn ngoại. Doanh nghiệp cần cập nhật để đẩy mạnh và tận dụng nguồn vốn từ bên ngoài nhằm phát triển kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới.
