Những quy định pháp luật mới mà doanh nghiệp cần lưu ý

Tài nguyên
Những quy định pháp luật mới mà doanh nghiệp cần lưu ý
Ngày đăng: 18/12/2024

    Vừa qua, tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá XV đã thông qua Dự thảo 18 Luật và 21 Nghị quyết. Trong đó có nhiều Luật được thông qua dự kiến có tác động đến hoạt động của các doanh nghiệp. Nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp để kịp thời có những cập nhật, bổ sung đối với những quy định mới liên quan đến hoạt động kinh doanh của mình, thông qua bài viết này, chúng tôi đề cập đến một số điểm mới nổi bật của các Luật quan trọng, có thể tác động đến hoạt động của doanh nghiệp.

     

     

    1. Luật Công đoàn sửa đổi (có hiệu lực từ 01/7/2025)

    Mở rộng đối tượng có quyền gia nhập, hoạt động công đoàn

    Quy định mới tại Điều 5 Luật Công đoàn sửa đổi đã bổ sung đối tượng có quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn. Trong đó, nổi bật là quy định cho phép người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam được gia nhập và hoạt động công đoàn. Cụ thể, người lao động là công dân nước ngoài làm việc ở Việt Nam theo hợp đồng lao động từ đủ 12 tháng trở lên được gia nhập, hoạt động công đoàn tại cơ sở. Tuy nhiên đối với người lao động là công dân nước ngoài khi gia nhập công đoàn thì không được ứng cử, nhận đề cử làm cán bộ công đoàn và chỉ hoạt động công đoàn tại công đoàn cơ sở.

    Có thể nói, công đoàn là một tổ chức đại diện cho người lao động, có vai trò lớn trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động thông qua việc cho ý kiến về các quyết định liên quan đến chế độ lao động, phúc lợi của người lao động. Việc mở rộng phạm vi đối tượng có quyền gia nhập công đoàn đối với người lao động nước ngoài cho thấy Việt Nam đang từng bước có những ứng xử bình đẳng hơn dành cho người lao động nước ngoài, trên cơ sở cho phép họ gia nhập vào tổ chức đại diện của mình.

    Với thay đổi này, các doanh nghiệp có sử dụng người lao động nước ngoài cần phải lưu ý để rà soát nhóm người lao động nước ngoài có hợp đồng lao động từ đủ 12 tháng trở lên, có thông báo cho nhóm người lao động này để họ đưa ra quyết định phù hợp về việc gia nhập công đoàn.

    2. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế (có hiệu lực từ 01/7/2025)

    Điều chỉnh, bổ sung nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm y tế

    Bên cạnh những lưu ý về quyền gia nhập công đoàn như trên, trong lĩnh vực lao động, doanh nghiệp cũng cần lưu ý đến một điểm mới khác trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế. Cụ thể, Luật này đã điều chỉnh, bổ sung nhóm đối tượng tham gia bảo hiểm y tế do doanh nghiệp hoặc người lao động đóng hoặc doanh nghiệp và người lao động cùng đóng tại Khoản 1 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế 2008 sửa đổi, bổ sung, gồm:

    • Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên (thay vì từ đủ 03 tháng so với quy định hiện hành);
    • Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp là người di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp hoặc tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu.

    Những điều chỉnh này rõ ràng sẽ tác động lớn đến các doanh nghiệp trong việc tham gia bảo hiểm y tế cho người lao động, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, nơi mà số lượng người lao động thường rất lớn. Bởi lẽ, theo quy định này, chỉ cần hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, người lao động sẽ phải tham gia bảo hiểm y tế, điều này mở rộng nhóm đối tượng phải tham gia bảo hiểm y tế của doanh nghiệp. Đồng thời, tương tự như quyền gia nhập công đoàn, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên cũng sẽ phải tham gia bảo hiểm y tế.

    Với những điều chỉnh trên, doanh nghiệp cần rà soát lại lực lượng lao động của mình để bảo đảm tham gia bảo hiểm y tế đầy đủ cho người lao động.

    3. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, Luật Kế toán, Luật kiểm toán độc lập, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Quản lý thuế, Luật Dự trữ quốc gia, Luật Xử lý vi phạm hành chính (có hiệu lực từ 01/01/2025)

    Sửa đổi, bổ sung quy định về thời gian tính tiền chậm nộp thuế tại Điểm b Khoản 2 Điều 59 Luật Quản lý thuế 2019

    Theo quy định tại Khoản 6 Điều 6 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế, thời gian tính tiền chậm nộp thuế sẽ được “tính liên tục kể từ ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo hoặc quyết định ấn định thuế hoặc quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế đến ngày liền kề trước ngày số tiền nợ thuế, tiền thu hồi hoàn thuế, tiền thuế tăng thêm, tiền thuế ấn định, tiền thuế chậm chuyển đã nộp vào ngân sách nhà nước”. Trong khi đó, theo quy định hiện hành, thời gian tính tiền chậm nộp thuế sẽ được tính liên tục kể từ ngày tiếp theo ngày phát sinh tiền chậm nộp.

    Trên thực tế, với quy định hiện hành, nhiều doanh nghiệp vẫn thường loay hoay khi xác định thời gian tính tiền chậm nộp thuế, về việc liệu rằng ngày phát sinh tiền chậm nộp có được tính vào thời gian tính tiền chậm nộp hay không. Đồng thời quy định này cũng tạo nên cách hiểu không thống nhất giữa cơ quan thuế và doanh nghiệp.

    Điều chỉnh này tuy không quá lớn, nhưng giúp làm rõ thời gian cụ thể bắt đầu tính tiền chậm nộp thuế. Và điều chỉnh này cũng phù hợp bởi lẽ khi hết thời hạn nộp thuế (hết ngày cuối cùng phải nộp thuế), thời gian chậm nộp nên được bắt đầu từ ngày tiếp theo để bảo đảm sự liền mạch.

    Với điều chỉnh này, doanh nghiệp cần lưu ý cho hoạt động đóng thuế, tính thời gian, tiền chậm nộp thuế để thực hiện phù hợp, tránh phát sinh các khoản phạt, nghĩa vụ tài chính bất lợi cho doanh nghiệp.

     

     

    4. Luật Thuế GTGT sửa đổi (có hiệu lực 01/7/2025)

    4.1 Quy định cụ thể thời điểm xác định thuế GTGT  

    Luật Thuế GTGT sửa đổi bổ sung về thời điểm xác định thuế GTGT tại Điều 8 thay vì đề cập tại các văn bản hướng dẫn hay công văn của cơ quan có thẩm quyền như trước đây: 

    • Đối với hàng hóa: là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền; 
    • Đối với dịch vụ: là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền. 

    4.2 Luật hóa và bổ sung quy định về giao dịch chuyển nhượng vốn không chịu thuế GTGT 

    Điểm d Khoản 9 Điều 5 Luật Thuế GTGT sửa đổi đã luật hóa quy định về giao dịch chuyển nhượng vốn không chịu thuế GTGT, đồng thời bổ sung quy định: Hoạt động chuyển nhượng vốn thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT không bao gồm chuyển nhượng dự án đầu tư, bán tài sản. 

    Chuyển nhượng dự án đầu tư hay bán tài sản không phải là các hoạt động phát sinh thường xuyên của doanh nghiệp, tuy nhiên, đối với những doanh nghiệp có phát sinh các hoạt động này, doanh nghiệp cũng cần phải lưu ý về việc nộp thuế GTGT để có thể thực hiện đúng quy định.  

    4.3 Sửa đổi quy định về giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu 

    Theo quy định mới, giá tính thuế của hàng hóa nhập khẩu tại cửa khẩu được cộng thêm khoản thuế nhập khẩu bổ sung theo quy định pháp luật (Điểm b Khoản 1 Điều 7 Luật Thuế GTGT sửa đổi).

    Quy định này trước đây đã được thể hiện tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, nay bổ sung vào Luật Thuế GTGT tạo nên sự thống nhất trong quy định pháp luật về thuế. Các doanh nghiệp có hoạt động nhập khẩu hàng hóa cần lưu ý đến diều chỉnh này để tham chiếu và áp dụng một cách phù hợp.  

    4.4 Sửa đổi, bổ sung quy định về khấu trừ thuế GTGT 

    Bổ sung thời điểm kê khai, khấu trừ số thuế GTGT bị sót: Trong trường hợp doanh nghiệp phát hiện số thuế GTGT đầu vào khi kê khai, khấu trừ bị sót thì được kê khai, khấu trừ vào kỳ phát hiện sót trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế, thanh tra thuế (Điểm đ Khoản 1 Điều 13 Luật Thuế GTGT sửa đổi). 

    Quy định mới này nhìn chung có lợi cho doanh nghiệp, bởi lẽ giúp doanh nghiệp được kê khai bổ sung hóa đơn bị bỏ sót trong khoảng thời gian ngắn hơn thời gian quy định hiện hành, nhằm làm tăng/giảm số cho tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn cho doanh nghiệp trong khoảng thời gian ngắn hơn so với thời gian quy định hiện hành.  

    4.5 Bãi bỏ một số trường hợp hoàn thuế GTGT 

    Một số quy định về hoàn thuế GTGT được bãi bỏ như sau

    • Bỏ trường hợp không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký khỏi các trường hợp không được hoàn thuế GTGT mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo (điểm a Khoản 2 Điều 14 Luật Thuế GTGT sửa đổi).
    • Bỏ quy định về hoàn thuế GTGT đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế nộp thừa hoặc số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể (khoản 4 Điều 14 Luật Thuế GTGT sửa đổi).

    Việc doanh nghiệp không góp đủ vốn điều lệ là thực tế diễn ra tại nhiều doanh nghiệp hiện nay. Nếu theo quy định hiện hành, trường hợp không góp đủ vốn điều lệ đã đăng ký, doanh nghiệp không được hoàn thuế GTGT nhưng sẽ được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo. Tuy nhiên, với quy định mới này, doanh nghiệp cũng sẽ không được kết chuyển sang kỳ tiếp theo. Trong khi đó, đối với việc bỏ quy định về hoàn thuế GTGT nộp thừa hoặc thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết khi chuyển đổi sở hữu, chuyển đổi doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chính sách này sẽ gây bất lợi cho doanh nghiệp khi thực hiện các hoạt động trên. Như vậy, với cả hai điều chỉnh trên, doanh nghiệp đều có thể gặp bất lợi hơn so với quy định hiện hành.

    5. Luật Dược sửa đổi (có hiệu lực 01/7/2025)

    Luật Dược sửa đổi là một trong những Luật đã được thông qua mà chúng tôi cho rằng có nhiều đổi mới nhất. Về cơ bản, Luật Dược sửa đổi đã có nhiều điều chỉnh tích cực, tác động đến cả hoạt động của doanh nghiệp dược nội địa (không có vốn nước ngoài) và các doanh nghiệp dược có vốn nước ngoài. Đồng thời, những quy định mới này còn điều chỉnh hoạt động quản lý của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện các thủ tục hành chính cũng như công tác giám sát, quản lý Nhà nước về lĩnh vực dược.

    Chi tiết về những đổi mới của Luật Dược sửa đổi, vui lòng xem chi tiết tại bài viết sau đây của chúng tôi: Luật Dược sửa đổi: nhiều quy định mới cởi trói cho doanh nghiệp


    Những Luật mới được thông qua sẽ có những tác động đáng kể đến hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt trong hoạt động/ lĩnh vực như công đoàn, bảo hiểm y tế, thuế giá trị gia tăng và các thủ tục về thuế. Với những quy định mới trên, doanh nghiệp cần:

    1. Rà soát lại toàn bộ hoạt động của mình liên quan đến những điều chỉnh trên;
    2. Bảo đảm tuân thủ kịp thời những điều chỉnh mới; và
    3. Thông báo cho người lao động, đặc biệt là người lao động nước ngoài về quyền lợi và nghĩa vụ của họ.

    Trên hết, việc giữ được sự chủ động sẽ giúp các doanh nghiệp hạn chế được rủi ro có thể gặp phải cũng như thích ứng tốt nhất với những điều chỉnh của pháp luật.