Nghị quyết mới về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế: Quy định nào có thể là điểm nghẽn khi thực thi

Tài nguyên
Nghị quyết mới về cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế: Quy định nào có thể là điểm nghẽn khi thực thi
Ngày đăng: 20/05/2026

    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã ký kết và tham gia nhiều hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hiệp định tự do thương mại thế hệ mới và các cam kết cao về bảo hộ nhà đầu tư nước ngoài. Tính đến hết năm 2025, Việt Nam đã và đang giải quyết với hơn 30 vụ kiện do nhà đầu tư nước ngoài khởi xướng. Theo đó, ngày 23/04/2026 vừa qua, Quốc Hội đã thông qua Nghị quyết số 20/2026/QH16 về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế ("Nghị quyết 20/2026"). Tuy nhiên, bên cạnh những quy định mới, tiến bộ của Nghị quyết, vẫn còn tồn đọng những điểm nghẽn chưa được giải quyết triệt để.

     

    Nghị quyết 20/2026 đánh dấu một bước tiến mang tính đột phá trong nỗ lực hoàn thiện thể chế về phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế tại Việt Nam. 

     

    Những điểm mới nổi bật của Nghị quyết 20/2026

    Nghị quyết 20/2026 đánh dấu một bước tiến mang tính đột phá trong nỗ lực hoàn thiện thể chế về phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế tại Việt Nam. Điểm sáng đầu tiên là việc làm rõ và mở rộng thẩm quyền của “Cơ quan chủ trì”, bao trùm cả các cơ quan tiến hành tố tụng trong trường hợp biện pháp bị khiếu kiện xuất phát từ hệ thống tư pháp.[1] Bên cạnh đó, nghị quyết thiết lập “Cơ chế phản hồi nhà đầu tư nước ngoài”, vận hành như một hệ thống cảnh báo sớm nhằm theo dõi, đánh giá và hóa giải rủi ro ngay từ giai đoạn mầm mống trước khi leo thang thành tranh chấp pháp lý.[2] Đồng thời, quy trình xây dựng Phương án hòa giải được luật hóa chi tiết, gắn với điều kiện tiên quyết là nhà đầu tư nước ngoài phải cam kết từ bỏ toàn bộ quyền khởi kiện liên quan đến vụ việc.[3] Về mặt nguồn lực, Nghị quyết đưa ra những chính sách đãi ngộ đặc thù chưa từng có, với mức hỗ trợ tài chính lên đến 300% mức lương hiện hưởng dành cho nhân sự trực tiếp tham gia xử lý vụ việc.[4] Đáng chú ý, cơ chế loại trừ, miễn hoặc giảm trách nhiệm cũng được thiết lập để bảo vệ đội ngũ thực thi công vụ nếu họ tuân thủ đúng quy trình và không mang tư lợi cá nhân, ngay cả khi kết quả cuối cùng có phát sinh rủi ro thiệt hại.[5] Cuối cùng, sự ra đời của các thiết chế chuyên trách như Ban chỉ đạo liên ngành cấp cao và Trung tâm phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế góp phần tạo dựng một bộ máy chỉ đạo, vận hành đồng bộ.[6] Những cải cách toàn diện này mang ý nghĩa chiến lược, không chỉ nâng cao năng lực chủ động phòng vệ của hệ thống cơ quan nhà nước trước các rủi ro pháp lý toàn cầu, mà còn tạo ra một hành lang bảo vệ vững chắc, qua đó bảo toàn tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia trong tiến trình hội nhập.

    Những điểm nghẽn có thể gây ách tắc

    Sự phụ thuộc vào quyết định của Thủ tướng trong việc xác định “Cơ quan chủ trì”

    Nghị quyết số 20/2026 vẫn còn phụ thuộc vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong việc xác định Cơ quan chủ trì đối với các vụ việc phức tạp. Mặc dù đã mở rộng phạm vi điều chỉnh bao gồm cả các cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng trong trường hợp biện pháp bị kiện liên quan đến hai hay nhiều cơ quan mà các cơ quan này không tự thống nhất được, quy trình vẫn là phải thông báo cho Cơ quan đại diện pháp lý để báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định.[7] Việc thiếu vắng các tiêu chí định lượng cứng rắn (như phân định dựa trên tỷ lệ thiệt hại thực tế hoặc cơ quan ra quyết định cuối cùng) để tự động ấn định Cơ quan chủ trì có thể dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, làm chậm trễ quá trình ứng phó trong “thời điểm vàng” của vụ kiện.

    Chưa thiết lập được hệ thống cảnh báo sớm ứng dụng công nghệ cao

    Văn bản chưa thiết lập được thiết chế cảnh báo sớm ứng dụng công nghệ cao. Dù Nghị quyết đã ghi nhận một bước tiến là thiết lập “Cơ chế phản hồi nhà đầu tư nước ngoài”[8] nhằm tiếp nhận, tổng hợp và theo dõi các phản ánh, khiếu nại để ngăn ngừa tranh chấp, nhưng cơ chế này dường như vẫn mang tính chất thủ công và truyền thống. Nghị quyết chưa có những quy định định hướng hoặc bắt buộc áp dụng các công nghệ hiện đại như Trí tuệ nhân tạo (AI) hay Dữ liệu lớn (Big Data) để tự động phân tích dữ liệu, nhận diện và cảnh báo sớm các rủi ro pháp lý tiềm ẩn từ những hiệp định đầu tư phức tạp.

     

    Nguồn: Tạp chí Kinh tế Tài chính

     

    Quy định về mạng lưới phối hợp quốc tế vẫn chưa thực sự rõ nét

    Quy định về mạng lưới phối hợp quốc tế trong giải quyết tranh chấp vẫn chưa thực sự rõ nét. Nội dung của Nghị quyết chủ yếu tập trung phân định trách nhiệm và cơ chế phối hợp “nội bộ” giữa các cơ quan nhà nước tại Việt Nam, bao gồm Cơ quan chủ trì, Cơ quan đại diện pháp lý và các Bộ, ngành, địa phương liên quan.[9] Tuy nhiên, văn bản lại khuyết thiếu các cơ chế cụ thể để huy động và tận dụng nguồn lực từ mạng lưới bên ngoài lãnh thổ, chẳng hạn như cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan xúc tiến đầu tư, hoặc hiệp hội chuyên môn của Việt Nam ở nước ngoài trong việc thu thập tình báo pháp lý hoặc chủ động tiếp xúc với nhà đầu tư.

    Tính chất “tùy nghi” trong cơ chế phối hợp chưa được giải quyết triệt để

    Tính chất “tùy nghi” trong cơ chế phối hợp chưa được giải quyết triệt để do thiếu vắng các chế tài giám sát đủ mạnh. Mặc dù Nghị quyết yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, chính xác và đúng thời hạn các thông tin, tài liệu, chứng cứ,[10] nhưng lại chưa quy định rõ biện pháp xử lý cụ thể nếu các cơ quan này chậm trễ hoặc bất hợp tác, ngoài nguyên tắc “chịu trách nhiệm về hậu quả phát sinh” mang tính chung chung.[11] Các hình thức xử lý chủ yếu vẫn dựa trên kỷ luật hành chính nội bộ, thiếu một thước đo đánh giá hiệu quả phối hợp thực tế đủ mạnh mẽ để cưỡng chế sự hợp tác trơn tru giữa các bộ ngành trong bối cảnh các vụ kiện trọng tài quốc tế luôn có yêu cầu thời gian tố tụng cực kỳ khắt khe.

    Kết luận

    Nghị quyết số 20/2026 đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc nỗ lực thể chế hóa năng lực ứng phó pháp lý của Việt Nam trước áp lực ngày càng lớn từ các hiệp định đầu tư thế hệ mới. Tuy nhiên, giữa tham vọng chính sách và khả năng vận hành thực tế vẫn còn có một khoảng cách đáng kể. Những khoảng trống pháp lý này không phải lý do để e ngại mà là tín hiệu để có thể chuẩn bị chủ động hơn.

    Luật sư Nguyễn Văn Phúc – Tiêu Minh Quân

    Công ty Luật TNHH HM&P


     

    [1] Khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 20/2026/QH16

     

    [2] Điều 9 Nghị quyết 20/2026/QH16

     

    [3] Điều 16 Nghị quyết 20/2026/QH16

     

    [4] Điều 18 Nghị quyết 20/2026/QH16

     

    [5] Khoản 6 Điều 16, khoản 3 Điều 20 Nghị quyết 20/2026/QH16

     

    [6] Khoản 9, 10 Điều 3 Nghị quyết 20/2026/QH16

     

    [7] Khoản 2 Điều 12 Nghị quyết 20/2026/QH16

     

    [8] Khoản 3 Điều 6 Nghị quyết 20/2026/QH16

     

    [9] Chương III Nghị quyết 20/2026/QH16

     

    [10] Khoản 3 Điều 15 Nghị quyết 20/2026/QH16

     

    [11] Khoản 4, 6 Điều 4 Nghị quyết 20/2026/QH16