Trong dòng chảy cải cách chính sách thuế của Việt Nam để ứng phó với chuyển động nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam, Nghị định 320/2025/NĐ-CP ngày (Nghị định 320) ra đời như một “mắt xích” quan trọng hoàn thiện kiến trúc pháp lý về thuế thu nhập doanh nghiệp. Không chỉ dừng lại ở vai trò hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025, Nghị định này còn đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoạt động quản lý thuế, khi thay thế các khuôn khổ hướng dẫn cũ như Nghị định 218/2013/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn khác. Nghị định 320 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 15/12/2025.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ điểm qua những thay đổi trọng tâm của Nghị định 320 và đưa ra một số bàn luận nhằm làm rõ những điểm đổi mới của Nghị định này.
1. Quy định rõ đối với đối tượng nộp thuế là doanh nghiệp nước người
Để hoàn thiện hướng dẫn cho Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 vừa được ban hành, Nghị định 320 đã bổ sung chi tiết các trường hợp được xem “doanh nghiệp nước ngoài”, bao gồm:
- Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú đó;
- Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà khoản thu nhập này không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú;
- Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam;
- Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam (không bao gồm doanh nghiệp nước ngoài quy định tại điểm b1 và điểm b2 khoản này) cung cấp hàng hóa, dịch vụ tại Việt Nam theo các hình thức kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam.
Các trường hợp được liệt kê đã dự trù các yếu tố liên quan như cơ sở doanh nghiệp, phạm vi lãnh thổ phát sinh thu nhập, hình thức kinh doanh để làm căn cứ xác định chủ thể nộp thuế. Cách tiếp cận này giúp giảm thiểu rủi ro thất thu ngân sách, qua đó tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài.
2. Bổ sung một số diện thu nhập chịu thuế, miễn thuế TNDN
Đối với thu nhập chịu thuế, quy định mới bổ sung trường hợp có thu nhập từ hợp đồng hợp tác kinh doanh (BBC)[1]. Tùy theo thỏa thuận và hình thức phân chia kết quả kinh doanh, doanh thu tính thuế sẽ có cơ sở xác định khác nhau.[2] Ví dụ, thỏa thuận phân chia dựa trên kết quả doanh thu bằng sản phẩm thì doanh thu tính thuế được xác định là doanh thu của sản phẩm chia cho từng bên theo hợp đồng.
Đối với thu nhập được miễn thuế, một số ngành liên quan đến dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp được bổ sung theo khoản 3 Điều 4 Nghị định 320. Theo đó, quy định này ngoài liệt kê những dịch vụ cụ thể như dịch vụ thoát lũ, ngăn lũ, ngăn triều cường, ngăn mặn, rửa mặn, rửa phèn, giữ ngọt thì còn xác định dựa trên mã ngành kinh tế cấp 1 của ngành nông nhiệp, lâm nghiệp và thủy sản tại Quyết định 36/2025/QĐ-TTg về Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam.
3. Khuyến khích chuyển đổi số và minh bạch chi phí thông qua hình thức chuyển khoản
Theo quy định trước đây tại điểm c khoản 1 Điều 9 Nghị định 218/2013/NĐ-CP, việc mua hàng hóa, dịch vụ ở từng lần chỉ được xem là khoản chi phí khi hóa đơn mua hàng đó có giá trị từ 20 triệu trở lên và kèm theo chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Điều này cho phép doanh nghiệp có thể thực hiện các giao dịch bằng tiền mặt dưới 20 triệu đồng mà vẫn hợp thức hóa chi phí khi không có chứng từ hay hóa đơn chuyển khoản. Tuy nhiên, quy định này đã được điều chỉnh tại Nghị định 320/2025 theo hướng chặt chẽ hơn.

Thứ nhất, giá trị hóa đơn, chứng từ làm căn cứ yêu cầu chứng từ thanh toán chuyển khoản đã giảm xuống còn 1/4 so với trước đây. Theo đó, cơ quan quản lý sẽ yêu cầu doanh nghiệp cung cấp chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với khoản chi từ 5 triệu đồng trở lên (đã bao gồm cả thuế GTGT) cho từng lần thanh toán nhằm bảo đảm tính chính xác khi xác định thu nhập chịu thuế. Ngoài ra, trường hợp doanh nghiệp thanh toán nhiều lần với giá trị dưới 5 triệu đồng/lần nhưng tổng giá trị thanh toán trong cùng một ngày từ 5 triệu đồng trở lên thì vẫn phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.[3] Trong trường hợp doanh nghiệp không có chứng từ chứng minh thì doanh nghiệp phải kê khai, điều chỉnh giảm chi phí tương ứng đối với phần thanh toán không dùng tiền mặt. Các quy định này được thiết kế nhằm hạn chế tình trạng doanh nghiệp ghi nhận khoản chi hợp pháp nhưng không xuất trình đủ hóa đơn, chứng từ chứng minh.
Thứ hai, khoản chi phí do người lao động được doanh nghiệp ủy quyền hoặc giao trực tiếp mua hàng hóa, dịch vụ để phục vụ hoạt động kinh doanh sẽ được ghi nhận nếu đáp ứng được điều 02 kiện sau:[4]
(i) Có hóa đơn, chứng từ theo quy định về kế toán hóa đơn chứng từ quy chế tài chính hoặc quy chế nội bộ hoặc quyết định về việc ủy quyền hoặc cho phép người lao động được thanh toán khoản mua này phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;
(ii) Khoản chi này sau đó được doanh nghiệp thanh toán lại cho người lao động.
Cuối cùng, quy định mới đã bỏ đi ngoại lệ yêu cầu cung cấp chứng từ ở một số trường hợp như thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, triển khai hoạt động phòng, chống HIV/AIDS nơi làm việc hoặc hỗ trợ phục vụ cho hoạt động của tổ chức đảng, tổ chức.
Như vậy, với quy định mới, cơ chế kiểm soát chi phí được siết chặt hơn đáng kể, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hoạt động kế toán, thuế của doanh nghiệp. Việc giảm ngưỡng thanh toán không dùng tiền mặt góp phần minh bạch hóa giao dịch, hạn chế tình trạng lợi dụng khoảng trống pháp lý nhằm gian lận chi phí trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
4. Giảm thời gian miễn thuế đối với thu nhập từ việc bán sản phẩm công nghệ mới
Trong xu hướng hiện đại hóa đất nước, các chính sách quản lý nhà nước và quy định về thuế luôn có những ưu đãi nhất định đối với lĩnh vực công nghệ để khuyến khích và tạo điều kiện phát triển môi trường tại Việt Nam. Mặc dù vậy, theo điểm b khoản 4 Điều 4 Nghị định 320, thời gian miễn thuế hiện nay đối với thu nhập từ bán sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu áp dụng tại Việt Nam giảm chỉ còn 03 năm, thay vì là 05 năm như quy định trước đó.[5] Thêm vào đó, quy định còn nêu ra cách xác định đối với cụm từ “Sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam”. Cụ thể, sản phầm này được xem “Sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam” khi có sự xác nhận của cơ quản có thẩm quyền. Vì thế, trong các trường hợp thu nhập từ việc bán sản phẩm mà không thỏa mãn yếu tố đối tượng kinh doanh nêu trên thì tổ chức, doanh nghiệp cũng không được hưởng ưu đãi miễn thuế. Cơ sở triển khai quy định này là tránh việc nhầm lẫn của các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm công nghệ khi các doanh nghiệp đó đều cho rằng thu nhập từ hoạt động của mình thỏa mãn điều kiện miễn thuế, đồng thời gây khó khăn cho các cơ quan ban ngành xác định nghĩa vụ thuế phát sinh của doanh nghiệp theo quy định pháp luật.
Có thể thấy, để đáp ứng bối cảnh phát triển và quản lý nền kinh tế trong bối cảnh mới, Nghị định 320 tiếp nối mạch quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2025 tạo nên hành lang pháp lý đầy đủ và rõ ràng nhằm đưa việc quản lý Nhà nước về thuế doanh nghiệp vào khuôn khổ. Đồng thời, đẩy mạnh công bằng và minh bạch trong quản lý thuế giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh tại Việt Nam. Điều này là hết sức cần thiết để Việt Nam có thể “cất cánh” phát triển trong thời đại công nghệ như hiện nay.
[1] Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi là hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm theo quy định của pháp luật mà không thành lập tổ chức kinh tế.
[2] Điểm p1, p2, p3, p4 khoản 3 Điều 3 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
[3] Điểm c1 khoản 1 Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp
[4] Điểm c2 khoản 1 Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
[5] Khoản 2 Điều 1 Nghị định 91/2024/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại các Nghị định về thuế.
