Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.[1] Việc phát hành và chào bán cổ phiếu riêng lẻ là hoạt động mang tính chiến lược để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu kép quan trọng là tăng vốn điều lệ và tìm kiếm nhà đầu tư cho công ty. Tuy vậy, nếu hoạt động này không tuân thủ các quy định pháp luật, bất kể do năng lực quản trị yếu kém hay cố ý sai phạm của doanh nghiệp/ người quản lý thì đều gây thiệt hại cho nhà đầu tư.

Nghị định số 156/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán (Nghị định 156) đã ghi nhận các chế tài đối với sai phạm trong hoạt động phát hành, chào bán cổ phiếu riêng lẻ. Một số quy định liên quan tại Nghị định 156 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 306/2025/NĐ-CP ngày 25/11/2025 của Chính phủ (Nghị định 306) theo hướng tăng cường mức xử phạt và siết chặt kỷ cương để thúc đẩy sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghị định 306 sẽ có hiệu lực từ ngày 09/01/2026 và có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các công ty đại chúng trong hoạt động phát hành cổ phiếu riêng lẻ.
Tăng chế tài trong hoạt động chào bán, phát hành cổ phiếu riêng lẻ
Thứ nhất, Nghị định 306 đã sửa đổi nguyên tắc xử phạt và xác định mức phạt tiền đối với doanh nghiệp vi phạm hành chính nhiều lần. Khoản 2 Điều 5 Nghị định 306 theo hướng dẫn chiếu tới các điều khoản quy định hành vi áp dụng thuộc trường hợp “vi phạm hành chính nhiều lần”. Do vậy, doanh nghiệp vi phạm có hệ thống, liên tục qua các năm sẽ thuộc trường hợp này và bị xử phạt với tình tiết tăng nặng.
Thứ hai, Nghị định 306 đồng thời sắp xếp lại một số vi phạm về bản chất là cùng hành vi nhưng do mức độ vi phạm nên có các khung phạt khác nhau (vi phạm về thời hạn báo cáo khi giao dịch của người nội bộ và người có liên quan, vi phạm về thời hạn công bố thông tin, vi phạm về thời hạn báo cáo, vi phạm về thời hạn đăng ký). Hiện nay, mức phạt đối với các vi phạm phần lớn áp dụng theo khung cố định, ngoại trừ mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin về giao dịch của người nội bộ và người có liên quan tại Điều 33.
Ngoài ra, Nghị định 306 đã sửa đổi, bổ sung một số chế tài để bảo đảm phù hợp, thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Ví dụ, chế tài đối với vi phạm trong ngôn ngữ công bố thông tin được nâng mức phạt tiền từ 10 đến 30 triệu đồng lên 30 đến 50 triệu đồng,[2] đảm bảo thực thi quy định về công bố thông tin bằng tiếng Anh tại Thông tư số 68/2024/TT-BTC.[3] Nghị định 306 cũng tăng mức phạt tiền đối với các vi phạm có rủi ro, ảnh hưởng đến hoạt động phát hành, chào bán cổ phiếu riêng lẻ, cụ thể bổ sung thêm 02 hành vi chịu mức phạt từ 100 đến 150 triệu đồng, đồng thời tăng đáng kể số tiền phạt của 03 mức phạt khác.
Siết chặt cơ chế sử dụng vốn và dòng tiền từ hoạt động chào bán cổ phiếu riêng lẻ
Thực tiễn cho thấy có một số doanh nghiệp tự ý thay đổi phương án phát hành và/ hoặc phương án sử dụng số tiền thu được từ đợt chào bán mà không thông qua chấp thuận nội bộ hợp pháp. Có doanh nghiệp lại triển khai thực hiện không đúng với nội dung các phương án mà mình đã đăng ký và được UBCKNN chấp thuận. Hệ quả là nhà đầu tư chịu bất lợi khi không được tiếp cận thông tin chính xác và kịp thời. Do đó, Nghị định 306 đã yêu cầu doanh nghiệp triển khai các phương án sử dụng vốn và dòng tiền từ hoạt động chào bán đúng với nội dung đã thông qua, đăng ký và được chấp thuận. Các vi phạm liên quan đến phương án tài chính của đợt chào bán sẽ chịu chế tài nghiêm hơn trước, với mức phạt tiền lên đến 300 triệu đồng.
Một điểm đáng lưu ý là báo cáo sử dụng vốn và số tiền thu được phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán mà doanh nghiệp đã chấp thuận, đồng thời được thuyết minh trong báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán. Mức phạt tại Điều 8 đối với các vi phạm liên quan lên đến 100 triệu đồng. Do đó, việc ĐHĐCĐ không phê duyệt tổ chức kiểm toán, hoặc việc ĐHĐCĐ không thông qua báo cáo tài chính năm được kiểm toán, đều dẫn đến hệ quả là doanh nghiệp không thực hiện được nghĩa vụ này và phải chịu xử phạt theo khung phạt mới theo Nghị định 306.
Doanh nghiệp cũng cần lưu ý rằng các vi phạm có tính chất, mức độ khác nhau vẫn bị xử phạt theo cùng khung phạt nếu bản chất là cùng hành vi vi phạm. Ví dụ, trường hợp chỉ chậm báo cáo (có vi phạm nhưng đã chấm dứt vi phạm khi gửi báo cáo dù chậm so với thời hạn quy định) vẫn chịu cùng khung hình phạt như đối với trường hợp không gửi báo cáo (không chấm dứt vi phạm) dù số tiền phạt trên thực tế của từng trường hợp có thể khác nhau.

Nguồn: Báo Chính phủ
Đặt ra chế tài khi xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp
Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp chỉ được chào bán cổ phiếu riêng lẻ cho nhà đầu tư chiến lược, nhà đầu tư chuyên nghiệp.[4] Đây vốn là trách nhiệm luật định của doanh nghiệp mà trước đây không có chế tài hay cơ chế giám sát, nhưng đến nay đã bị xử lý sai phạm theo Điều 8. Mức phạt tiền được quy định lên đến 150 triệu đồng đối với các doanh nghiệp vi phạm quy định về xác định tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp tham gia đợt chào bán, phát hành và các doanh nghiệp không có tài liệu liên quan để chứng minh.
Do đó, doanh nghiệp phát hành cần xác định đúng tư cách của nhà đầu tư thông qua việc thu thập đủ hồ sơ, tài liệu (ví dụ như chứng chỉ hành nghề chứng khoán đối với cá nhân đầu tư). Đồng thời, doanh nghiệp phải thực hiện lưu trữ hồ sơ tối thiểu 01 năm kể từ thời điểm xác định để không phải thực hiện xác định lại trong thời hạn 01 năm mà pháp luật cho phép[5] và tránh rủi ro bị xử phạt theo quy định mới này.
Bổ sung nhiều biện pháp khắc phục hậu quả để bảo vệ tốt nhất nhà đầu tư
Nghị định 306 cũng đặt ra trách nhiệm thu hồi cổ phiếu riêng lẻ đã chào bán, phát hành và hoàn trả cho nhà đầu tư tiền mua hoặc tiền đặt cọc (nếu có) cộng thêm tiền lãi phát sinh khi có vi phạm trong hoạt động phát hành cổ phiếu. Đối với trường hợp vi phạm điều kiện chào bán, phát hành thì thời hạn hoàn trả cho nhà đầu tư là 60 ngày; trường hợp chào bán, phát hành vượt quá thời gian quy định thì thời hạn là 30 ngày; trường hợp triển khai phương án không đúng với nội dung đã đăng ký và được chấp thuận thì thời hạn là 15 ngày.[6]
Chủ thể phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là chủ thể bị xử phạt vi phạm hành chính, ở đây là doanh nghiệp phát hành, chào bán có hành vi vi phạm. Do vậy, nhà đầu tư có quyền yêu cầu doanh nghiệp hủy bỏ giao dịch, hoàn trả tiền cho nhà đầu tư nếu doanh nghiệp vi phạm cam kết khi phát hành cổ phiếu riêng lẻ.
Doanh nghiệp cần làm gì để giảm thiểu rủi ro bị xử phạt hành chính
Thứ nhất, cần đảm bảo các điều kiện về báo cáo và công bố thông tin và quản lý nhân viên, người hành nghề để không bị đình chỉ hoạt động hay xử phạt vi phạm.
Thứ hai, cần đảm bảo tính hợp pháp của phương án phát hành cổ phiếu riêng lẻ và mọi yếu tố liên quan như số lượng cổ phiếu, giá chào bán hoặc nguyên tắc xác định giá chào bán cổ phiếu, thực hiện các thủ tục chấp thuận nội bộ hợp pháp trước khi phát hành.
Thứ ba, cần đăng ký tại UBCKNN phương án tài chính của đợt chào bán cùng mọi thay đổi liên quan, báo cáo, công bố và nhận ủy quyền thực hiện từ ĐHĐCĐ để tiến hành chào bán. Bên cạnh đó, phải đảm bảo triển khai theo đúng nội dung đã thông qua, đăng ký và được chấp thuận; đồng thời minh bạch hóa, tuân thủ quy trình hoàn tất đợt chào bán và thực hiện nghĩa vụ báo cáo UBCKNN để sử dụng số tiền thu được.
Ngoài ra, cần xác định chính xác tư cách nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp thuộc đối tượng chào bán. Mặt khác, với đối tượng chào bán là nhà đầu tư chiến lược (không phải nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp), vốn được ĐHĐCĐ lựa chọn theo các tiêu chí tại Luật Chứng khoán, thì doanh nghiệp nên lưu trữ nghị quyết ĐHĐCĐ liên quan để làm tài liệu chứng minh.
Nhìn chung các quy định mới tại Nghị định 306 đã sửa đổi, bổ sung các quy định của Nghị định 156 theo hướng kiểm soát chặt chẽ và xử lý nghiêm hơn đối với doanh nghiệp phát hành, chào bán cổ phiếu riêng lẻ và các vi phạm trong hoạt động phát hành, chào bán cổ phiếu riêng lẻ của doanh nghiệp. Điều này cho thấy Nhà nước đang hướng đến nâng cao chuẩn mực quản trị thị trường chứng khoán chuyên nghiệp, đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư cổ phiếu riêng lẻ tại Việt Nam trong thời gian tới.
[1] Khoản 2 Điều 4 Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 ngày 26/11/2019
[2] Điểm a khoản 2 Điều 42 Nghị định 156 (sửa đổi, bổ sung bởi khoản 16 Điều 1 Nghị định 306)
[3] Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 68/2024/TT-BTC ngày 18/9/2024 của Bộ Tài chính
[4] Điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 ngày 26/11/2019
[5] Khoản 3 Điều 4 Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ
[6] Điểm b, e, g khoản 9 Điều 8 Nghị định 156 (sửa đổi, bổ sung bởi điểm a khoản 6 Điều 1 Nghị định 306)
