Một số hạn chế trong quy định pháp luật gây cản trở đổi mới sáng tạo tại Việt Nam

Tài nguyên
Một số hạn chế trong quy định pháp luật gây cản trở đổi mới sáng tạo tại Việt Nam
Ngày đăng: 11/04/2025

    Đổi mới sáng tạo là một trong những động lực then chốt trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận trong đổi mới sáng tạo thể hiện qua sự gia tăng số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp, mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, cũng như các thứ hạng ngày càng cao trên bảng xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu[1]. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, khung pháp lý hiện hành vẫn còn tồn tại những hạn chế gây cản trở cho sự phát triển của các hoạt động đổi mới sáng tạo. Do đó, bài viết tập trung phân tích một số hạn chế trong quy định hiện hành, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đổi mới sáng tạo tại Việt Nam trong thời gian sắp tới.

     

     

    1. Thực tiễn đổi mới sáng tạo tại Việt Nam

    Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đổi mới sáng tạo (Innovation) được hiểu là việc một sản phẩm hoặc quy trình mới (hoặc được cải tiến) có sự khác biệt đáng kể so với các sản phẩm hoặc quy trình trước đó của chủ thể (bao gồm cả tổ chức hoặc cá nhân), và đã được đưa vào cung cấp cho khách hàng hoặc được sử dụng thực tế bởi chủ thể đó. Hoạt động đổi mới tại doanh nghiệp có thể bao gồm tất cả các hoạt động vận hành, tài chính và thương mại với mục đích tạo ra một đổi mới cho doanh nghiệp. mà không phải chỉ gói gọn trong việc phát triển công nghệ cao[2]. Doanh nghiệp có thể tham gia vào mạng lưới đổi mới sáng tạo bằng cách hợp tác với các viện nghiên cứu, nhà đầu tư trong và ngoài nước, hoặc các doanh nghiệp khác trong hệ sinh thái khởi nghiệp.

    Tại Việt Nam, đổi mới sáng tạo đang dần được định hình như một trọng tâm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Do đó, Nhà nước đã và đang áp dụng những chính sách, quỹ hỗ trợ, hoặc các chương trình thúc đẩy để mở rộng tiềm năng phát triển đổi mới sáng tạo tại nước ta. Nhiều tín hiệu tích cực đã xuất hiện, như sự ra đời của các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, sự gia tăng đầu tư vào nghiên cứu và phát triển (R&D), cũng như các chính sách khuyến khích khởi nghiệp sáng tạo. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu này, Việt Nam vẫn còn những điểm hạn chế và bất cập trong thực tiễn đổi mới sáng tạo.

    1.1. Điểm tích cực trong đổi mới sáng tạo tại Việt Nam

    Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang chịu tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đổi mới sáng tạo đã trở thành yếu tố then chốt để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và tiến bộ trong mọi lĩnh vực. Nhận thức được tầm quan trọng của điều này, Nhà nước đã không ngừng nỗ lực trong việc xây dựng một môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo trong các doanh nghiệp, lĩnh vực này tại Việt Nam và đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ.

    Trong đó, có thể kể đến việc cơ quan Nhà nước đã ban hành nhiều chiến lược và chính sách quan trọng như Quyết định số 844/QĐ-TTg ngày 18/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2025”; Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo (Nghị định số 38/2018/NĐ-CP); Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; Quyết định số 569/QĐ-TTg ngày 11/5/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2022. Những chính sách này đã tạo môi trường pháp lý thuận lợi, thúc đẩy các doanh nghiệp đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và đổi mới sản phẩm, công nghệ.

    Bên cạnh đó, Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index - GII) năm 2024 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố đã đánh dấu sự tiến bộ đáng kinh ngạc của Việt Nam. Theo báo cáo, Việt Nam đứng thứ 44 trong tổng số 133 quốc gia, tăng hai bậc so với năm 2023, duy trì vị trí thứ 02 trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình thấp và xếp thứ 06 trong nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Ngoài ra, Việt Nam tiếp tục có sự cải thiện thứ hạng đầu vào đổi mới sáng tạo khi tăng 04 bậc lên vị trí 53 so với năm 2023 (bao gồm 05 trụ cột: Thể chế, nguồn nhân lực và nghiên cứu, cơ sở hạ tầng, trình độ phát triển của thị trường, trình độ phát triển của doanh nghiệp) và tăng lên vị trí 36 đối với đầu ra đổi mới sáng tạo (bao gồm 2 trụ cột: Sản phẩm tri thức và công nghệ, sản phẩm sáng tạo).

    Đáng chú ý, năm 2024, Việt Nam có 03 chỉ số đứng đầu thế giới là chỉ số về nhập khẩu công nghệ cao, xuất khẩu công nghệ cao và xuất khẩu hàng hóa sáng tạo. Trong báo cáo, Việt Nam được WIPO ghi nhận là một trong 08 quốc gia thu nhập trung bình cải thiện thứ hạng nhiều nhất tính từ năm 2013 và là một trong 03 quốc gia giữ kỷ lục có thành tích vượt trội so với mức độ phát triển trong 14 năm liên tiếp[3]. Có thể nói, chỉ số GII của Việt Nam  liên tục được nâng cao, chứng minh nỗ lực của quốc gia trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo.

    Đối với hoạt động R&D, trong năm 2023, tuy thứ hạng chi cho R&D của Việt Nam không có sự thay đổi so với các năm trước, nhưng chi cho R&D của top 03 doanh nghiệp lớn lại có sự cải thiện đáng kể khi tăng 09 bậc so với năm 2022 lên thứ hạng 29[4]. Cũng trong năm này, xu hướng đầu tư mạo hiểm toàn cầu giảm mạnh 35% thì mức giảm nhẹ tại thị trường đầu tư Việt Nam vẫn cho thấy tín hiệu lạc quan khi so sánh với tình hình chung trên thế giới[5].

    Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam cũng ngày càng được chú trọng với sự ra đời của nhiều trung tâm hỗ trợ như Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC), Trung tâm Hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo quốc gia (NSSC), và Trung tâm Đổi mới sáng tạo về Internet vạn vật (IoT Innovation Hub). Các trung tâm này đã triển khai nhiều hoạt động thiết thực như ươm tạo doanh nghiệp, hỗ trợ vốn, cố vấn chiến lược, kết nối các startup với các quỹ đầu tư trong nước và quốc tế. Riêng NIC đã hợp tác với 41 quỹ đầu tư từ nhiều quốc gia khác nhau với cam kết dòng vốn 1,5 tỷ USD cho các startup Việt Nam trong giai đoạn 2023 - 2025[6].

    Nhìn chung, với sự quan tâm mạnh mẽ từ Nhà nước và nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo tại Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng. Đây là nền tảng vững chắc để Việt Nam tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển bền vững trong thời gian tới.

    1.2 Bất cập về đổi mới sáng tạo tại Việt Nam

    Mặc dù đã có những bước tiến quan trọng trong việc xây dựng cơ chế hỗ trợ đổi mới sáng tạo, trên thực tế vẫn tồn tại những rào cản về pháp lý gây khó khăn cho các doanh nghiệp, tổ chức trong việc khai thác tiềm năng đổi mới và sáng tạo tại Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.

    Theo ông Nguyễn Hoa Cương - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, ngoài những trở ngại xuất phát từ phía doanh nghiệp, vẫn còn tồn tại một số bất cập về chính sách, quy định pháp luật như quy trình đăng ký doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo hay thủ tục tiếp cận các hỗ trợ, ưu đãi còn phức tạp và chưa hiệu quả. Ngoài ra, pháp luật hiện hành vẫn còn thiếu tiêu chí xác định doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, đổi mới xanh[7].

    Trong báo cáo “Điểm lại - Cập nhật tình hình kinh tế Việt Nam” vào tháng 4/2024, Ngân hàng Thế giới (WB) đã nhận định rằng, mặc dù môi trường kinh doanh gần đây đã được cải thiện, các doanh nghiệp khởi nghiệp và nhà đầu tư ở Việt Nam vẫn phải đối mặt với thách thức liên quan đến các thủ tục xin giấy phép con do tính phức tạp và hiện chưa rõ ràng về tính chất pháp lý của vô số các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, đặc biệt đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp.

    Đối với các nhà đầu tư, khung pháp lý về đăng ký thành lập quỹ đầu tư còn hạn chế và chưa tạo động lực, dẫn đến mới chỉ có một vài quỹ đăng ký thành lập trong nước. Đặc biệt, các quỹ này bị giới hạn chỉ có tối đa 30 nhà đầu tư, con số này thấp hơn nhiều so với thông lệ quốc tế, gây cản trở trong việc thu hút và huy động vốn cho các dự án đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

    Một ví dụ điển hình là các doanh nghiệp công nghệ tài chính (fintech) phải xin phép nhiều cơ quan khác nhau để hoạt động, như Bộ Công Thương để cấp phép hoạt động thương mại điện tử, Ngân hàng nhà nước Việt Nam để phê duyệt các giao dịch thanh toán liên ngân hàng, Bộ Thông tin và Truyền thông nếu có liên quan đến nội dung số. Báo cáo cũng chỉ ra rằng, tại khảo sát PCI năm 2021, 22% doanh nghiệp gặp phải khó khăn trong việc xin giấy phép con, điều này dẫn đến việc kế hoạch sản xuất kinh doanh của họ bị chậm trễ hoặc phải hủy bỏ hoàn toàn[8].

    2. Rào cản về pháp luật gây hạn chế đổi mới sáng tạo tại Việt Nam

    2.1 Pháp luật về doanh nghiệp và đầu tư

    Khung pháp lý về doanh nghiệp và đầu tư hiện hành vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, làm giảm hiệu quả kinh doanh và gây trở ngại cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo. Trong đó, có thể xem xét đến một số quy định dưới đây:

    Thứ nhất, Khoản 2 Điều 3 Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017 quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo là doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập để thực hiện ý tưởng trên cơ sở khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có khả năng tăng trưởng nhanh. Đồng thời, Khoản 1 Điều 2 Thông tư 01/2018/TT-BKHCN quy định rằng doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới và có thời gian hoạt động không quá 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu. Có thể thấy, định nghĩa “doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo” hay “doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” đều chưa thực sự phù hợp, bởi chưa có tiêu chí cụ thể để xác định có khả năng tăng trưởng nhanh và chưa đề cập đến đặc điểm nổi bật của đổi mới, sáng tạo như đầu tư mạnh vào hoạt động R&D để tạo ra các sản phẩm hoặc dịch vụ mới, khiến định nghĩa chưa phản ánh đúng bản chất hoạt động của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.

    Thứ hai, thủ tục hành chính vẫn còn thiếu hướng dẫn và chưa thống nhất. Cụ thể, tại Điều 67 Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư (Nghị định số 31/2021/NĐ-CP) quy định cơ chế tinh gọn thủ tục hành chính đối với nhà đầu tư nước ngoài khi thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn vào doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo, tuy nhiên lại thiếu quy định hướng dẫn cụ thể khi thi hành, dẫn đến việc một số cơ quan quản lý địa phương vẫn áp dụng quy định đầu tư cũ khi các nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam. Nhiều nhà đầu tư phản ánh rằng, để đầu tư vào một doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, họ phải thực hiện nhiều vòng kiểm tra và phê duyệt, với thời gian kéo dài, hơn nữa, các quy định pháp lý của Việt Nam về đầu tư lại chưa rõ ràng ở các lĩnh vực mới như fintech, trí tuệ nhân tạo (AI) hay công nghệ blockchain. Điều này không chỉ làm tăng chi phí vận hành mà còn làm mất đi cơ hội kinh doanh trong các lĩnh vực đòi hỏi tốc độ triển khai nhanh chóng. Bên cạnh đó, trường hợp doanh nghiệp phải thành lập công ty mẹ ở nước ngoài để nhận vốn của các nhà đầu tư do thủ tục hành chính ở nước ta còn phức tạp.

    Thứ ba, hiện Thông tư số 05/2014/TT-NHNN ngày 12/3/2014 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản vốn đầu tư gián tiếp để thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp nước ngoài tại Việt Nam (Thông tư số 05/2014/TT-NHNN) không quy định rõ nhà đầu tư nước ngoài được phép sử dụng IICA để góp vốn vào quỹ khởi nghiệp sáng tạo hay không, dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài không thể góp vốn vào quỹ vì lý do các ngân hàng thương mại và công ty kiểm toán không ghi nhận quyền sở hữu vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài tại quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo là hợp pháp và hợp lệ. Có thể nói, điều này phần nào đã cản trở khả năng thu hút vốn từ các tổ chức và cá nhân nước ngoài trong việc đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

    Thứ tư, khung pháp lý về thành lập và hoạt động của các quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam cũng còn những bất cập. Cụ thể, Nghị định số 38/2018/NĐ-CP quy định số lượng tối đa thành viên của quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo là 30 nhà đầu tư góp vốn[9], trong khi các quỹ đầu tư ở các quốc gia phát triển thường có khả năng thu hút hàng trăm nhà đầu tư cá nhân và tổ chức. Bên cạnh đó, quy định chỉ cho phép nhà đầu tư góp vốn bằng tiền Việt Nam, không chấp nhận ngoại tệ trực tiếp[10] đã làm giảm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế. Đồng thời, Nghị định không cho phép sử dụng vốn vay để góp vào quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Điều này được coi là không phù hợp theo thông lệ quốc tế vì quỹ đầu tư nước ngoài vẫn cần phải huy động tiền từ các nhà đầu tư khác với nhiều hình thức khác nhau để góp vốn.

    Do đó, cần có sự sửa đổi, bổ sung kịp thời đối với các bất cập nêu trên để thu hút thêm các nhà đầu tư trong và ngoài nước, cũng như phát triển và hoạt động hiệu quả hơn các quỹ khởi nghiệp sáng tạo.

    2.2 Pháp luật về thuế

    Pháp luật hiện chưa quy định rõ ưu đãi thuế đối với thu nhập của quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo mặc dù quỹ này đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Các quy định của Luật Đầu tư năm 2020 và Nghị định số 31/2021/NĐ-CP đã đề cập ưu đãi đối với doanh nghiệp tại các trung tâm đổi mới sáng tạo, nhưng chưa áp dụng cho quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo. Do đó, quỹ này vẫn phải chịu mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp phổ thông là 20%, một con số không mang tính khuyến khích đầu tư và phát triển.

    Quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo cũng đang gặp nhiều rắc rối trong việc khai báo thuế tại Việt Nam do thiếu sự đồng bộ và hướng dẫn cụ thể về hạch toán kế toán dành riêng cho quỹ. Điều này dẫn đến sự lúng túng trong việc kê khai và nộp thuế, khiến các quỹ gặp khó khăn khi vận hành minh bạch, đặc biệt là trong việc đáp ứng các yêu cầu của cơ quan quản lý.

    Ngoài ra, các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế suất 20% đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn. Quy định này được áp dụng đồng nhất mà không có sự phân biệt hay ưu đãi cụ thể nào dành cho các giao dịch mang tính chất chiến lược, chẳng hạn như đầu tư vào các lĩnh vực công nghệ cao hoặc đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, nhiều quốc gia trong khu vực, điển hình như Singapore đã áp dụng các chính sách ưu đãi nổi bật, bao gồm miễn thuế hoặc áp dụng mức thuế suất 0% đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn. Chính sách này không chỉ giảm thiểu gánh nặng tài chính cho các doanh nghiệp nước ngoài mà còn tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, thu hút mạnh mẽ các dòng vốn quốc tế.

     

     

    2.3 Pháp luật về sở hữu trí tuệ

    Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT), mặc dù Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể thông qua việc cập nhật và sửa đổi pháp luật qua từng giai đoạn, nhưng hiệu quả thực thi vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, Việt Nam hiện vẫn là một trong những quốc gia có tỷ lệ vi phạm quyền SHTT cao nhất.

    Một trong những bất cập về thể chế là quy trình đăng ký bảo hộ quyền SHTT tại Việt Nam còn cồng kềnh với thời gian kéo dài và chi phí cao. Đơn cử như đối với sáng chế, theo Khoản 1, Khoản 2 Điều 119 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ sung qua các năm 2009, 2019, 2022, việc đăng ký sáng chế yêu cầu phải trải qua quy trình thẩm định hình thức và nội dung phức tạp, kéo dài tối đa 19 tháng. Tuy nhiên, thực tế thời gian này có thể kéo dài hơn rất nhiều phụ thuộc vào số lượng đơn được xử lý tại cơ quan có thẩm quyền. Điều này làm giảm khả năng tiếp cận thị trường của các sản phẩm mới. Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, đây là rào cản lớn khi họ cần bảo vệ sản phẩm và ý tưởng sáng tạo một cách nhanh chóng để cạnh tranh.

    Ngoài ra, cơ sở dữ liệu thông tin về SHTT tại Việt Nam còn thiếu đồng bộ, hoạt động cung cấp thông tin còn hạn chế, trang thông tin thư viện chưa hiện đại, thường xuyên gặp tình trạng không thể truy cập, ảnh hưởng tới công tác tra cứu, xác lập quyền SHTT,… Điều này không chỉ làm tăng khó khăn cho các doanh nghiệp khi muốn tra cứu và xác lập quyền SHTT mà còn cản trở minh bạch hóa thông tin. Việc đầu tư vào các giải pháp công nghệ thông tin để hiện đại hóa hệ thống cơ sở dữ liệu và cải thiện khả năng tra cứu là điều cấp thiết nhưng chưa được triển khai đồng bộ và hiệu quả.

    Một thách thức khác là việc Luật Sở hữu trí tuệ chưa có quy định cụ thể về quyền SHTT đối với các sản phẩm do AI tạo ra. Trong bối cảnh công nghệ AI đang phát triển mạnh mẽ, việc thiếu các quy định rõ ràng về chủ thể quyền, phạm vi bảo hộ và cơ chế xử lý tranh chấp liên quan đến AI đang gây khó khăn lớn cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý.

    Ngoài ra, một trong những lý do cho tình trạng vi phạm bản quyền còn cao tại Việt Nam có thể kể đến, chế tài hành chính của nước ta còn thiếu quyết liệt và chưa đủ sức răn đe. Bàn về vấn đề này, nhiều chuyên gia, luật sư trong lĩnh vực SHTT chia sẻ quá trình xử lý các vụ việc xâm phạm quyền SHTT còn gặp nhiều khó khăn, có những vụ việc kéo dài nhiều năm, gây thiệt hại hàng tỷ đồng, bởi các cơ quan thực thi tại địa phương chưa có kinh nghiệm trong xử lý các vụ việc liên quan đến SHTT, nhiều thủ tục còn rườm rà, chế tài cũng chưa đủ nghiêm khắc. Hiện nay, khi tiến hành các thủ tục pháp lý để xử lý hành vi vi phạm pháp luật về SHTT, nhiều công ty chỉ nhận được một khoản tiền bồi thường ít ỏi từ các đơn vị vi phạm - một con số quá rất nhỏ so với chi phí và công sức mà nhiều doanh nghiệp bỏ ra để theo đuổi vụ việc[11]

    Bên cạnh đó, mức xử phạt hành hiện hành thấp nên chưa đủ răn đe doanh nghiệp vi phạm. Ví dụ trường hợp rất phổ biến hiện nay tại Việt Nam, các trang web phim lậu vi phạm bản quyền, quyền SHTT của nhiều đơn vị nhưng mức xử phạt cao nhất mới chỉ là 60 triệu. Đây là con số quá thấp so với lợi nhuận các website vi phạm bản quyền của Hiệp hội thu được. Hiệp hội Điện ảnh Mỹ gần đây cũng đã mang một số vụ việc ra đề nghị xử lý hình sự nhưng việc xử lý này cũng còn khó khăn[12].

    Có thể thấy, các bất cập trong quy định và thủ tục liên quan đến quyền SHTT còn gây ra rào cản cho việc thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo và việc đầu tư, nghiên cứu hoạt động này còn vấp phải những khó khăn, e ngại. Vì vậy, việc điều chỉnh các quy định trong lĩnh vực SHTT, đặc biệt là các chế tài đối với bên vi phạm là hết sức cần thiết để thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo của các chủ thể trong xã hội hiện nay.

    2.4 Pháp luật về an ninh mạng và công nghệ thông tin

    Hiện nay, giao dịch điện tử và an toàn thông tin đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, không chỉ tại Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Tuy nhiên, hệ thống pháp lý hiện nay vẫn tồn tại một số bất cập có thể kể đến như việc thiếu hướng dẫn cụ thể hay việc luật hóa chưa theo kịp với sự thay đổi của thị trường.

    Một trong những điểm hạn chế là việc pháp luật hiện hành còn thiếu khung pháp lý điều chỉnh các công nghệ mới như blockchain, AI hay Internet vạn vật (IoT). Mặc dù Luật Giao dịch điện tử, Luật An ninh mạng hay Luật Công nghệ thông tin đã có những cập nhật mới so với trước đây, các luật này vẫn tập trung vào giao dịch điện tử truyền thống và chưa bao quát được các giao dịch phi tập trung hoặc tự động hóa.

    Lấy ví dụ hợp đồng thông minh (smart contracts) là các ứng dụng chạy trên nền tảng blockchain[13]. Khi một hợp đồng thông minh thực hiện giao dịch mua bán tài sản trên blockchain nhưng phát sinh tranh chấp, các bên liên quan không thể dựa vào hệ thống pháp luật hiện hành để bảo vệ quyền lợi của mình do Luật Giao dịch điện tử năm 2023 chưa công nhận giá trị pháp lý của các giao dịch dựa trên blockchain. Điều này làm giảm niềm tin và ý định đầu tư của doanh nghiệp vào việc ứng dụng công nghệ blockchain tại Việt Nam.

    Bên cạnh những những văn bản pháp luật đã được ban hành, một số đề xuất trong một số dự thảo luật dự kiến ban hành trong thời gian sắp tới cũng còn những điểm chưa phù hợp, gây cản trở hoạt động đổi mới, sáng tạo tại nước ta. Trong đó có thể đề cập đến Dự thảo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân dự kiến sẽ được thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026[14]. Mặc dù Dự thảo đã có những cập nhật quan trọng để theo kịp xu hướng phát triển công nghệ hiện đại, một số quy định được đề xuất trong Dự thảo lại vô tình tạo ra những lo lắng và có thể là rào cản cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và khiến cho họ phải cân nhắc khi đầu tư vào thị trường Việt Nam nói chung và ở lĩnh vực đổi mới sáng tạo nói riêng.

    Điều 49 Dự thảo đặt ra yêu cầu đối với các dữ liệu cá nhân cơ bản như họ tên, quốc tịch, số căn cước công dân hay tình trạng hôn nhân phải có biện pháp bảo vệ bao gồm việc chỉ định tổ chức bảo vệ dữ liệu cá nhân, chuyên gia bảo vệ dữ liệu cá nhân để bảo vệ dữ liệu và cần phải trải qua kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống, thiết bị phục vụ xử lý dữ liệu cá nhân. Đối với dữ liệu cá nhân nhạy cảm như quan điểm chính trị, tôn giáo, tình trạng sức khỏe, xu hướng tình dục hay dữ liệu về vị trí, bên cạnh các yêu cầu nói trên, khoản 4 Điều 49 Dự thảo quy định doanh nghiệp phải trải qua đánh giá tín nhiệm về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

    Quy định trên cho thấy nỗ lực trong việc kiểm soát chặt chẽ và nâng cao trách nhiệm của tất cả các tổ chức, cá nhân liên quan hoạt động kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân. Nhưng đồng thời, quy định này cũng đặt ra gánh nặng về chi phí do thực thi các biện pháp bảo mật cao, đòi hỏi các doanh nghiệp phải đối mặt với những khoản chi phí lớn để duy trì công nghệ bảo mật và nhân lực chuyên môn. Thêm vào đó, quy định chưa phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể. Ví dụ, khi xảy ra vi phạm bảo mật dữ liệu, trách nhiệm thuộc về tổ chức, cá nhân được thuê bảo vệ dữ liệu cá nhân hay của cả doanh nghiệp trong khi một doanh nghiệp kinh doanh bình thường không thể nào nắm rõ được các biện pháp kỹ thuật.

    Nhìn chung, các rào cản pháp lý kể trên không chỉ làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam trên trường quốc tế mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo trong nước. Để tháo gỡ những hạn chế này, cần có sự điều chỉnh toàn diện về khung pháp lý, tập trung vào đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện tính minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư, đặc biệt là trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo.

    Luật sư Nguyễn Văn Phúc

    Công ty Luật TNHH HM&P


    [1] Vũ Hưng, “Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2023: Việt Nam tăng 2 bậc so với năm 2022”, Tạp chí Khoa Học và Công Nghệ, số 10/2023, tr. 4.

    [3] Hoàng Giang (2024), “Việt Nam tiếp tục thăng hạng chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu”, Báo Điện tử Chính phủ, truy cập ngày 13/01/2025.

    [7] Anh Vũ (2023), “7 bất cập trong đổi mới sáng tạo tại Việt Nam”, Tạp chí Diễn đàn Doanh nghiệp, truy cập ngày 13/01/2025.

    [8] Bảo Thoa (2024), “Điều gì gây hạn chế cho hoạt động khởi nghiệp sáng tạo?”, Báo Lao động và Pháp luật, truy cập ngày 13/01/2025.

    [9] Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 38/2018/NĐ-CP.

    [10] Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 38/2018/NĐ-CP.

    [11] La Duy (2022), “Thực thi quyền sở hữu trí tuệ: Cần thêm chế tài xử lý, Báo Quân đội nhân dân, truy cập ngày 13/01/2025.

    [12] Minh Ngọc (2018), “Xử lý vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ: Luật chưa đủ sức răn đe”, Báo điện tử Pháp luật Việt Nam, truy cập ngày 13/01/2025.

    [13] Hợp đồng thông minh là các đoạn mã lập trình được viết bằng ngôn ngữ tin học và có thể coi là một ứng dụng hoạt động trên nền tảng blockchain. Khi được triển khai trên blockchain, hợp đồng thông minh tự động thực thi các giao dịch hoặc quy trình mà không cần bên trung gian. Nếu coi blockchain giống như hệ điều hành Windows hoặc macOS thì hợp đồng thông minh là một ứng dụng chạy trên hệ điều hành như trình duyệt web hoặc phần mềm văn phòng.

    [14] Bản Dự thảo ngày 10/3/2025, xem tại https://congan.thaibinh.gov.vn/upload/80598/20250314/2__Du_thao_d85c9.pdf, truy cập ngày 19/3/2025.