Kinh doanh mỹ phẩm thời xuyên biên giới: Sân chơi công bằng nào cho doanh nghiệp nội địa?

Tài nguyên
Kinh doanh mỹ phẩm thời xuyên biên giới: Sân chơi công bằng nào cho doanh nghiệp nội địa?
Ngày đăng: 22/04/2024

    Trong phạm vi bài viết này, Luật sư điều hành Nguyễn Văn Phúc sẽ phân tích về những thách thức đối với các doanh nghiệp mỹ phẩm nội địa trước sự phát triển nhanh chóng của hoạt động kinh doanh mỹ phẩm xuyên biên giới. Bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Sài Gòn số 15 - 2024, phát hành ngày 10 - 04 - 2024.

     

    Hiện nay, việc đặt mua mỹ phẩm trên các sàn thương mại điện tử nước ngoài hay trang web của các doanh nghiệp mỹ phẩm nước ngoài không còn là điều xa lạ đối với người tiêu dùng tại Việt Nam. Sự dễ dàng trong việc tiếp cận các sản phẩm mỹ phẩm ngoại mang lại cho người tiêu dùng Việt Nam nhiều sự lựa chọn cả về mẫu mã, chất lượng và giá cả hàng hóa. Điều này giúp người tiêu dùng thoải mái hơn trong việc lựa chọn sản phẩm phù hợp với mình. Tuy vậy, việc phát triển nhanh chóng của hoạt động kinh doanh mỹ phẩm xuyên biên giới cũng tạo nên nhiều thách thức cho không chỉ các doanh nghiệp mỹ phẩm trong nước, khi họ phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn từ dòng mỹ phẩm ngoại, mà còn đặt ra một bài toán phức tạp về công tác quản lý cho các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    1. Mảnh đất màu mỡ nhưng đầy cạnh tranh của doanh nghiệp

    (Nguồn: Tạp chí Kinh tế Sài gòn)

    Mỹ phẩm giờ đây đã trở thành một loại hàng hóa vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội, khi mà nhu cầu làm đẹp, chăm sóc sức khỏe đang ngày càng được người tiêu dùng đặt ở vị trí ưu tiên. Song hành cùng nhu cầu của người tiêu dùng, lĩnh vực kinh doanh mỹ phẩm từ lâu đã là mảnh đất màu mỡ cho nhiều doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng này. Với đặc thù là các loại sản phẩm sử dụng trực tiếp trên cơ thể, người tiêu dùng thường có xu hướng lựa chọn những sản phẩm tốt nhất trong khả năng của mình. Nắm bắt được thị hiếu này, các doanh nghiệp mỹ phẩm luôn đứng trước áp lực phải tạo ra các sản phẩm tốt nhất, thời thượng nhất để phục vụ cho khách hàng. Hiện nay, để kinh doanh mỹ phẩm, doanh nghiệp có thể lựa chọn các hình thức như sản xuất mỹ phẩm để bán ra thị trường hoặc nhập khẩu mỹ phẩm từ các thị trường đã có danh tiếng trên thế giới như Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu Âu,… Với hình thức nào, doanh nghiệp cũng cần phải tuân thủ nhiều điều kiện, thủ tục nhất định trước khi đưa sản phẩm vào kinh doanh tại thị trường Việt Nam. Tuy vậy, với sự trỗi dậy của hoạt động thương mại điện tử trong những năm gần đây, hoạt động của nhiều doanh nghiệp mỹ phẩm tại Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức rất lớn. Thách thức này đến từ việc người tiêu dùng Việt Nam hiện nay tiếp cận với các sản phẩm mỹ phẩm nước ngoài quá dễ dàng, thay vì chỉ sử dụng các sản phẩm trong nước hay chỉ mua được mỹ phẩm ngoại từ các doanh nghiệp nhập khẩu. Không thể phủ nhận sự tiện lợi của người tiêu dùng khi mua mỹ phẩm qua các sàn thương mại điện tử nước ngoài hay trực tiếp trên các trang web của doanh nghiệp mỹ phẩm nước ngoài, thế nhưng, sự tiện lợi này có thể gây nên những thiệt thòi cho các doanh nghiệp trong nước.

    Như đã đề cập, để có thể đưa được mặt hàng mỹ phẩm vào thị trường, doanh nghiệp trong nước, dù là sản xuất hay nhập khẩu mỹ phẩm đều phải trải qua những thủ tục nhất định, điều này không những gây tốn kém thời gian mà còn là chi phí hành chính của doanh nghiệp. Đôi khi, áp lực cạnh tranh trong ngành hàng mỹ phẩm chỉ tính bằng ngày khi mà các sản phẩm đưa ra thị trường đều phải liên tục cập nhật xu thế. Việc phải trải qua các thủ tục hành chính phần nào đó sẽ trì hoãn sự phát triển nhanh chóng của dòng sản phẩm mới. Tuy vậy, ở góc độ quản lý chất lượng và sức khỏe người tiêu dùng, điều này là dễ hiểu. Trong khi đó, trường hợp người tiêu dùng mua mỹ phẩm trên các sàn thương mại điện tử nước ngoài hay các trang web của doanh nghiệp mỹ phẩm nước ngoài, những loại mỹ phẩm được mua gần như đến thẳng tay người tiêu dùng Việt Nam mà không phải trải qua các thủ tục hành chính tại Việt Nam, ngoại trừ thủ tục hải quan thông thường. Với lợi thế này, người tiêu dùng có thể nhanh chóng mua được những sản phẩm thời thượng trên thế giới mà không phải mất quá nhiều thời gian để chờ các doanh nghiệp tại Việt Nam chính thức đưa vào kinh doanh. Điều này tạo nên sự thay đổi về thói quen của người tiêu dùng, từ đó, đặt ra thách thức lớn cho các doanh nghiệp mỹ phẩm trong nước.

    2. Không chỉ là vấn đề của doanh nghiệp

    Mặc dù gây nên áp lực cạnh tranh lớn cho các doanh nghiệp mỹ phẩm trong nước, sức ảnh hưởng của hoạt động kinh doanh mỹ phẩm xuyên biên giới không chỉ dừng lại ở vậy. Việc các mặt hàng nước ngoài du nhập vào thị trường Việt Nam cũng cần thiết phải được kiểm soát chặt chẽ hơn đến từ các cơ quan có thẩm quyền. Hiện tại, ngoài việc không phải trải qua thủ tục công bố mỹ phẩm, các sản phẩm mỹ phẩm ngoại còn không phải bị hậu kiểm bởi các sản phẩm này đã đến trực tiếp tay người tiêu dùng. Do đó, việc quản lý chất lượng đối với một mặt hàng đặc biệt như mỹ phẩm gần như đang tồn tại một khoảng trống, mà ở đó, các sản phẩm được mua xuyên biên giới này lại không phải chịu bất kỳ sự kiểm soát nào. Trên thực tế, nếu mỹ phẩm được mua từ doanh nghiệp kinh doanh mỹ phẩm tại Việt Nam hoặc các sàn thương mại điện tử Việt Nam, người tiêu dùng có thể tìm đến các doanh nghiệp này hay chí ít là các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam để giải quyết khi phát sinh các vấn đề về chất lượng, hay nghiêm trọng hơn là các vấn đề về sức khỏe do mỹ phẩm gây ra. Thế nhưng, nếu mua từ các sàn thương mại điện tử nước ngoài hay trực tiếp từ các trang web của doanh nghiệp nước ngoài, việc người tiêu dùng có thể giải quyết được các vấn đề phát sinh là rất khó, thậm chí là không thể được. Do đó, bài toán về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong nước cũng được đặt ra đối với các cơ quan có thẩm quyền.

    Ngoài ra, các chính sách về hải quan, thuế đối với mỹ phẩm được mua xuyên biên giới cũng là vấn đề hóc búa đặt ra cho các cơ quan có thẩm quyền, khi so sánh với hoạt động nhập khẩu mỹ phẩm từ các doanh nghiệp kinh doanh mỹ phẩm tại Việt Nam. Hiện tại, việc kiểm soát hải quan và tính thuế đối với hàng hóa giao dịch qua thương mại điện tử xuyên biên giới chưa chịu sự điều chỉnh bởi một hành lang pháp lý cụ thể nào, ngoài các quy định về hải quan và thuế đối với hàng hóa nhập khẩu thông thường. Liên quan đến các quy định pháp luật hải quan trong lĩnh vực thương mại điện tử xuyên biên giới, Chính phủ đã có kế hoạch xây dựng Nghị định quy định về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử (“Dự thảo Nghị định”) từ rất lâu. Tuy nhiên, đến nay, Dự thảo Nghị định này vẫn chưa được thông qua và áp dụng trên thực tế. Do đó, cơ quan có thẩm quyền vẫn gặp nhiều loay hoay trên thực tế liên quan đến việc quản lý hải quan và thuế đối với các mặt hàng nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử nói chung và mỹ phẩm nói riêng.

    3. Để tạo sân chơi công bằng cho doanh nghiệp

    Xu thế mua mỹ phẩm qua các sàn thương mại điện tử nước ngoài hay các trang web của doanh nghiệp mỹ phẩm nước ngoài có thể được xem là một điều tất yếu, trong thời đại công nghệ thông tin và thương mại điện tử phát triển như hiện nay. Tuy vậy, để hoạt động này thực sự được quản lý tốt, bảo đảm sự tiện lợi của người tiêu dùng nhưng vẫn thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế, tác giả cho rằng các cơ quan có thẩm quyền cần sớm có những bổ sung, điều chỉnh phù hợp đối với các quy định pháp luật quản lý hoạt động này.

    (Nguồn: Internet)

    Thứ nhất, liên quan đến hoạt động kiểm soát chất lượng, với các quy định hiện hành cũng như quy định dự kiến tại Dự thảo Nghị định, cập nhật vào ngày 17/12/2021[1], hoạt động kiểm soát chất lượng đối với mỹ phẩm được mua trực tiếp từ nước ngoài bởi người tiêu dùng gần như bỏ ngõ. Cụ thể, theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 13 Dự thảo Nghị định, hàng hóa nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử có trị giá hải quan theo từng mặt hàng trong đơn hàng từ 2.000.000 đồng trở xuống hoặc trên 2.000.000 đồng đối với hàng hóa nhập khẩu đơn chiếc (trừ hàng hóa phải kiểm dịch, hàng hóa thuộc danh mục quản lý của Bộ Văn hóa, thể thao và Du lịch) được miễn giấy phép, điều kiện, miễn kiểm tra chuyên ngành 01 đơn hàng/ngày và không quá 04 đơn hàng/tháng đối với mỗi tổ chức, cá nhân. Như vậy, nếu quy định này có hiệu lực trên thực tế, mỹ phẩm thuộc trường hợp này sẽ không chịu sự kiểm tra chuyên ngành, không phải thực hiện thủ tục công bố mỹ phẩm, đồng thời cũng không thể kiểm soát bằng công tác hậu kiểm. Để kiểm soát chất lượng sản phẩm, tránh nguy cơ hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, tác giả cho rằng các cơ quan có thẩm quyền cần tập trung quản lý chất lượng sản phẩm mỹ phẩm tại giai đoạn hàng hóa này được nhập khẩu vào Việt Nam, dựa trên các tiêu chí tương tự như thủ tục công bố sản phẩm mỹ phẩm nhập khẩu.

    Thứ hai, liên quan đến thuế nhập khẩu. Theo quy định tại Điều 29 Nghị định 134/2016/NĐ-CP thì hàng hóa có tổng trị giá hải quan từ 500.000 đồng trở xuống hoặc có tổng số tiền thuế nhập khẩu phải nộp từ 50.000 đồng trở xuống cho một lần nhập khẩu được miễn thuế nhập khẩu. Tuy nhiên, theo Điều 14 Dự thảo Nghị định các trường hợp hàng hóa được miễn thuế nhập khẩu đã có sự thay đổi theo hướng mở rộng hơn khả năng được miễn thuế. Cụ thể, hàng hóa nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử được miễn thuế nhập khẩu khi (i) Hàng hóa nhập khẩu có trị giá hải quan theo từng đơn hàng từ 2.000.000 đồng trở xuống; hoặc (ii) Hàng hóa nhập khẩu có trị giá hải quan theo từng đơn hàng trên 2.000.000 đồng nhưng có tổng số tiền thuế nhập khẩu phải nộp dưới 200.000 đồng. Như vậy, điều này phần nào lại tạo nên áp lực cho các doanh nghiệp mỹ phẩm trong nước về giá, bởi thuế nhập khẩu cũng ít nhiều ảnh hưởng đến giá bán mỹ phẩm của những doanh nghiệp này. Tuy nhiên, khác với hoạt động kiểm soát chất lượng mỹ phẩm, khi mà hoạt động này cần thực hiện chặt chẽ hơn vì tính chất an toàn của mỹ phẩm, đối với vấn đề thuế, tác giả cho rằng việc miễn thuế đối với mỹ phẩm có giá trị nhỏ được mua từ nước ngoài là hợp lý, bởi quy định này hướng đến các đối tượng là người tiêu dùng. Tuy nhiên, để hài hòa lợi ích với các doanh nghiệp mỹ phẩm trong nước, tác giả cho rằng tại Dự thảo Nghị định cần giới hạn về tổng giá trị hàng hóa được miễn thuế trong một năm đối với một cá nhân/ tổ chức có hoạt động mua bán hàng hóa trực tuyến xuyên biên giới, từ đó, hạn chế tình trạng chia nhỏ đơn hàng nhằm hưởng lợi về thuế.

    Tóm lại, việc sớm rà soát, chỉnh lý và ban hành Nghị định quy định về quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu giao dịch qua thương mại điện tử có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong thời gian tới. Hơn hết, đi cùng sự phát triển của bất kỳ một hoạt động kinh tế nào, Nhà nước cần kịp thời có những chính sách tương ứng để điều chỉnh kịp thời các hoạt động này, kinh doanh mỹ phẩm xuyên biên giới cũng không phải là ngoại lệ. Trong bối cảnh đó, thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử xuyên biên giới nhưng vẫn bảo đảm một sân chơi công bằng cho các doanh nghiệp là điều mà các doanh nghiệp mỹ phẩm trong nước vẫn đang mong đợi.

     

    Xem thêm tại: Kinh doanh mỹ phẩm thời xuyên biên giới: Sân chơi công bằng nào cho doanh nghiệp nội địa?