Khắc phục hạn chế quy định cấp thẻ doanh nhân APEC tại Việt Nam

Tài nguyên
Khắc phục hạn chế quy định cấp thẻ doanh nhân APEC tại Việt Nam
Ngày đăng: 21/04/2026

    Bộ Công an đang trình Dự thảo sửa đổi Quyết định 09/2023/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, cấp và quản lý thẻ đi lại doanh nhân APEC (Quyết định 09) lấy ý kiến điều chỉnh quy định liên quan tới tới quy định này để phù hợp bối cảnh phát triển mới của Việt Nam.

     

    Đây được xem là “thị thực vàng” khi cho phép doanh nhân trong nền kinh tế thành viên Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được tự do và ưu tiên di chuyển tại các quốc gia trong nền kinh tế thành viên.

     

    1. Quy định khung pháp lý hiện hành việc cấp thẻ APEC

    Theo khoản 1 Điều 3 Quyết định 09 loại thẻ này được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền của một trong các quốc gia thành viên trên cơ sở có sự đồng ý các quốc gia thành viên khác. Khái niệm này đã được sửa đổi bổ sung để phù hợp hơn với định nghĩa của khối APEC đưa ra theo Dự thảo Quyết định sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 09/2023/QĐ-TTg (Dự thảo QĐ). Theo đó, thẻ APEC được định nghĩa là loại thẻ được cấp riêng cho doanh nhân, cho phép nhập cảnh với các quốc gia thành viên APEC mà không cần xin thị thực. Đây được xem là “thị thực vàng” khi cho phép doanh nhân trong nền kinh tế thành viên Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) được tự do và ưu tiên di chuyển tại các quốc gia trong nền kinh tế thành viên. Trong đó, 21 quốc gia thành viên bao gồm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, một số các quốc gia khu vực Đông Nam Á và Châu Mỹ, trong đó có bao gồm Việt Nam.

    Việc sở hữu loại thẻ này là một ưu thế lớn cho các cá nhân là doanh nhân Việt Nam đang điều hành hoặc làm việc tại các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân.[1] Ngoài việc miễn thị thực, người mang thẻ APEC còn được hưởng quyền ưu tiên làm thủ tục xuất nhập cảnh thông qua các làn đường riêng giúp tối ưu hóa chi phí, thời gian, đặc biệt đối với các chuyến công tác ngắn ngày.

    Bên cạnh những sửa đổi về mặt khái niệm đơn thuần, một số hạn chế đã và đang được dự tính để đảm bảo thủ tục được nhanh chóng và tiết kiệm chi phí hơn.

    2. Những hạn chế của Quyết định 09

    Hiện nay, thời hạn sử dụng của thẻ APEC có giá trị trong 05 năm kể từ ngày cấp và không có cơ chế gia hạn thẻ.[2] Mặc dù, thành phần hồ sơ đã đơn giản hơn so với lần cấp đầu nhưng thời hạn giải quyết cũng gây ra nhiều khó khăn khi doanh nhân có nhu cầu sử dụng thẻ trong thời gian sớm nhất. Theo quy định, thời hạn giải quyết sẽ tốn ít nhất khoảng 01 tháng để được cấp thẻ. Trong một số trường hợp đặc biệt như chưa nhận đủ ý kiến của các quốc gia thành viên thì doanh nghiệp phải tiếp tục có văn bản đề nghị để cơ quan có thẩm quyền xem xét và cấp thẻ. Tuy nhiên, thực tế thời gian này có thể sẽ kéo dài hơn khi cần đợi sự phê duyệt của các nước thành viên. Do đó, trong trường hợp có nhu cầu cấp lại thẻ, doanh nghiệp phải kiểm tra thường xuyên thời điểm hết hạn để làm thủ tục từ sớm, trách việc mất thêm thời gian đợi được cấp thẻ và đảm bảo hoạt động công tác không bị gián đoạn.

    Bên cạnh đó, tính phức tạp trong hồ sơ và hình thức đề nghị cấp thẻ. Đối với doanh nhân thuộc các doanh nghiệp tư nhân, hồ sơ cơ bản đề nghị phải bao gồm:[3] (i) Văn bản đề nghị theo Mẫu CV01 Phụ lục; (ii) Bản sao hoặc bản sao điện tử có chứng thực hợp đồng thương mại của doanh nghiệp ký kết trực tiếp với đối tác của nền kinh tế thành viên APEC có thời hạn không quá 02 năm kể từ thời điểm đề nghị; (iii) Bản sao hoặc bản sao điện tử có chứng thực hộ chiếu còn giá trị sử dụng hoặc giấy tờ thể hiện nhu cầu đi lại thường xuyên, ngắn hạn để thực hiện các hoạt động ký kết, hợp tác kinh doanh với đối tác nước ngoài; (iv) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao điện tử có chứng thực quyết định bổ nhiệm chức vụ của doanh nhân; (v) Báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp trong 12 tháng gần nhất và quá trình đóng bảo hiểm xã hội của doanh nhân tính đến thời điểm đề nghị cho phép sử dụng thẻ; (vi) Báo cáo quyết toán tài chính trong năm gần nhất của doanh nghiệp đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

    Theo đó, mức độ phức tạp số lượng và cách thức hồ sơ yêu cầu cũng là rào cản để doanh nhân có thể xin cấp phép sử dụng thẻ APEC. Cụ thể, đối với giấy tờ thể hiện nhu cầu đi lại thường xuyên, ngắn hạn tương đối khó chứng minh khi không có con số định lượng cụ thể về số lần đi hay các yếu tố khác như giá trị hợp đồng. Ngoài ra hình thức hồ sơ nộp chưa ghi nhận việc triển khai nộp trực tuyến bằng bản điện tử từ văn bản.

     

    Nguồn: Bộ Công thương Việt Nam

     

    3. Các giải pháp đề xuất khắc phục tại Dự thảo mới

    Thứ nhất, Dự thảo QĐ đã bãi bỏ cụm từ “không được gia hạn thẻ APEC”.[4] Việc điều chỉnh này nhằm thống nhất với quy định chỉ có hai hình thức sở hữu thẻ APEC bao gồm hình thức cấp thẻ mới hoặc cấp lại APEC. Tuy nhiên, một trong những hạn chế ở trên vẫn chưa được khắc phục hoàn toàn khi không có cơ chế đơn giản hơn đối với các thẻ APEC đã hết thời hạn sử dụng. Trường hợp hết thời hạn sử dụng, doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục thực hiện thủ tục cấp thẻ mới theo quy định cũ.

    Thứ hai, tại khoản 7, 8 Điều 1 Dự thảo QĐ, quy định mới bổ sung nộp hồ sơ theo hình thức trực tuyến, các hồ sơ nộp theo hình thức trực tuyến sẽ sử dụng bản điện tử thay thế mà không cần phải nộp bản chính. Ngoài ra, thành phần hồ sơ đối với trường hợp doanh nghiệp ngoài nhà nước cũng được đơn giản hóa bằng việc bỏ đi một số hồ sơ như: (i) Báo cáo tổng hợp kê chi tiết các khoản thuế của doanh nghiệp, doanh nhân đã đóng vào Ngân sách nhà nước trong 12 tháng tính đến thời điểm đề nghị cho phép sử dụng thẻ ABTC…; (ii) Bản sao có chứng thực hoặc bản sao điện tử có chứng thực hộ chiếu còn giá trị sử dụng hoặc giấy tờ thể hiện nhu cầu đi lại thường xuyên, ngắn hạn để thực hiện các hoạt động ký kết, hợp tác kinh doanh với đối tác nước ngoài…; (iii) Báo cáo về tình hình chấp hành nghĩa vụ bảo hiểm xã hội của doanh nghiệp trong 12 tháng gần nhất và quá trình đóng bảo hiểm xã hội của doanh nhân tính đến thời điểm đề nghị cho phép sử dụng thẻ ABTC kèm theo tài liệu chứng minh… Đây là những thành phần hồ sơ đã có trong các cơ sở dữ liệu mà cơ quan tiếp nhận, giải quyết có thể khai thác được. Do đó, doanh nghiệp có thể giảm đi chi phí trong quá trình nộp hồ sơ xin cấp thẻ.

    Thứ ba, thời hạn giải quyết của nhiều thủ tục đã được sửa đổi theo hướng giảm nhằm tiết kiệm chi phí, thời gian liên quan đến thẻ APEC, đồng thời đáp ứng theo yêu cầu của Chính phủ tại Quyết định số 1891 về phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính. Đầu tiên đối với thời hạn giải quyết thủ tục cấp mới và cấp lại[5], thời hạn xét duyệt của các nước thành viên APEC được giảm từ 20 xuống còn 17 ngày kể từ ngày trao đổi. Ngoài ra, các khoảng thời gian như cấp thẻ, trả kết quả đều được giảm đi 01 ngày. Chung quy lại, khoảng thời gian tiêu chuẩn để doanh nhân đề nghị có thể nhận được thẻ là khoảng 22 ngày.  Trong trường hợp làm mất thẻ[6], thời gian để cơ quan nhà nước thông báo gửi văn bản thông báo về việc mất thẻ đến doanh được rút gọn còn 02 ngày.

    Nhìn chung, các sửa đổi tại Dự thảo QĐ thể hiện mong muốn của cơ quan quản lý trong việc từng bước khắc phục những hạn chế còn tồn tại Quyết định. Thông qua quá trình đơn giản hóa thành phần hồ sơ, cho phép nộp hồ sơ trực tuyến và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục không chỉ góp phần giảm bớt gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp mà còn tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nhân Việt Nam trong quá trình di chuyển và hợp tác kinh doanh với các đối tác trong khu vực APEC trong bối cảnh hội nhập như hiện nay. Tuy nhiên, một số vấn đề như việc chưa thiết lập cơ chế gia hạn thẻ đơn giản hơn đối với các thẻ đã hết hạn vẫn còn là điểm cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện trong thời gian tới. Việc tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến thẻ APEC sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam nâng cao khả năng kết nối, mở rộng thị trường và thúc đẩy hoạt động thương mại, đầu tư trong trong thời gian tới.


    [1] Điều 9 Quyết định 09/2023/QĐ-TTg

    [2] Khoản 1 Điều 16 Quyết định 09/2023/QĐ-TTg.

    [3] Khoản 2 Điều 12 Quyết định 09/2023/QĐ-TTg.

    [4] Khoản 12 Điều 1 Dự thảo QĐ.

    [5] Khoản 11 Điều 1 Dự thảo QĐ.

    [6] Khoản 16 Điều 1 Dự thảo QĐ.