
Dưới đây là đoạn trích của ấn phẩm. Vui lòng xem thêm và tải nội dung của ấn phẩm (file PDF) tại đây
LỜI NÓI ĐẦU
Với lợi thế to lớn đến từ nhiều yếu tố nội tại có thể kể đến như sự ổn định về mặt chính trị, quy mô thị trường trong nước, khả năng tiếp cận hàng hóa cơ bản, cơ chế ưu đãi đa dạng cũng như sự hỗ trợ tích cực từ Chính phủ, Việt Nam hiện nay đã và đang trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy vậy, trong một số ngành, nghề đặc biệt, Việt Nam vẫn đang đặt ra các giới hạn nhất định cho nhà đầu tư nước ngoài để có thể tiếp cận thị trường Việt Nam. Các giới hạn này có thể đến từ các quy định của pháp luật trong nước cũng như các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Ngoài những ngành, nghề mà nhà đầu tư nước ngoài được tiếp cận thị trường Việt Nam không hạn chế, tùy thuộc vào mức độ đặc biệt của từng ngành, nghề, hiện nay, pháp luật đang phân loại rõ ràng đối với các ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường. Cụ thể, Phụ lục I, ban hành kèm theo Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ đã quy định Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài. Theo đó, Phụ lục này phân định rõ các ngành, nghề mà nhà đầu tư nước ngoài được tiếp cận thị trường Việt Nam có điều kiện và những ngành, nghề mà nhà đầu tư nước ngoài chưa được tiếp cận thị trường Việt Nam.
Nhằm giúp các nhà đầu tư nước ngoài thuận lợi hơn trong việc tìm hiểu các quy định hiện hành về điều kiện tiếp cận thị trường Việt Nam, Công ty Luật TNHH HM&P (“HM&P”) đã biên soạn tài liệu này, với mong muốn hỗ trợ cho các nhà đầu tư trong giai đoạn tìm hiểu thị trường Việt Nam. Không những thế, tài liệu này còn có thể được sử dụng với mục đích tham khảo dành cho Quý đồng nghiệp, doanh nghiệp trong quá trình nghiên cứu và áp dụng các quy định về tiếp cận thị trường Việt Nam.
Tài liệu này được biên soạn dựa trên kinh nghiệm cung cấp dịch vụ thực tiễn của các Luật sư tại HM&P, đồng thời, là quá trình tổng hợp, nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và cam kết của Việt Nam tại các Hiệp định thương mại tự do. Với số lượng quy định lớn và trải dài trong nhiều lĩnh vực, tài liệu này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. HM&P rất mong nhận được sự thông cảm và phản hồi, góp ý của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các anh, chị, em đồng nghiệp.
Đồng thời, tài liệu này chỉ mang tính chất tham khảo, không hàm chứa nội dung tư vấn pháp lý. Do đó, việc sử dụng tài liệu này đòi hỏi phải có sự kiểm tra, đối chiếu cũng như tham khảo ý kiến của đơn vị tư vấn/cơ quan có thẩm quyền trong từng trường hợp cụ thể. Chúng tôi miễn trừ mọi trách nhiệm phát sinh từ việc dẫn chiếu, áp dụng nội dung tại tài liệu này.
Về nguyên tắc áp dụng các quy định về điều kiện tiếp cận thị trường, tài liệu này được biên soạn dựa trên nguyên tắc sau:
Điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài bao gồm:
(a) Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế;
(b) Hình thức đầu tư;
(c) Phạm vi hoạt động đầu tư;
(d) Năng lực của nhà đầu tư; đối tác tham gia thực hiện hoạt động đầu tư;
(e) Điều kiện khác theo quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Căn cứ tổng hợp các điều kiện tiếp cận thị trường gồm:
(a) Quy định tại các điều ước quốc tế về đầu tư bao gồm:
- Biểu cam kết cụ thể về thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO;
- Hiệp định Đầu tư Toàn diện ASEAN (ACIA);
- Hiệp định khung ASEAN về Dịch vụ - AFAS (Gói thứ 10);
- Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA);
- Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA);
- Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA);
- Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP);
- Các Hiệp định khác.
(b) Quy định tại luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ.
Trường hợp phát sinh bất kỳ vấn đề nào liên quan đến ấn phẩm này hoặc về dịch vụ mà HM&P cung cấp, Quý vị có thể liên hệ với HM&P theo thông tin dưới đây:
|
Nguyễn Văn Phúc |
|
Công Ty Luật TNHH HM&P |
|
Luật Sư Điều Hành |
|
🏠 Tầng 7, Tòa Nhà ITAXA, 126 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam |
|
+84 932 768 630 |
|
🕿 +84 28 7308 0839 |
|
|
||
|
|
|



A. NGÀNH, NGHỀ TIẾP CẬN THỊ TRƯỜNG CÓ ĐIỀU KIỆN ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
|
STT |
NGÀNH NGHỀ |
ĐIỀU KIỆN |
|---|---|---|
|
1 |
Sản xuất và phân phối các sản phẩm văn hóa, bao gồm các bản ghi hình |
WTO, VKFTA, VJEPA, AFAS, RCEP, AIFTA, AJCEP, ACFTA, AKFTA, ACFTA, AANZFTA, VN-EAEU FTA, AHKFTA: không được thực hiện quyền phân phối các vật phẩm đã ghi hình. Dịch vụ sản xuất phim (CPC 96112, trừ băng hình), phát hành phim (CPC 96113, trừ băng hình), chiếu phim (CPC 96121): 1. Tất cả các phim phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam kiểm duyệt nội dung. 2. Chỉ dưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam đã được phép cung cấp các dịch vụ này tại Việt Nam. Phần vốn góp của phía nước ngoài không được vượt quá 51% vốn pháp định của liên doanh. Riêng đối với dịch vụ chiếu phim (CPC 96121): các nhà văn hóa, các tụ điểm chiếu phim, câu lạc bộ và hiệp hội chiếu phim công cộng, các đội chiếu bóng lưu động của Việt Nam không được phép tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh hay liên doanh với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Riêng đối với WTO, VKFTA, VJEPA, ACFTA, AFAS, RCEP (Ngành này thuộc danh mục miễn trừ tối huệ quốc): Đối với ngành sản xuất và phát hành các chương trình truyền hình và tác phẩm điện ảnh: các biện pháp thực hiện các chương trình hỗ trợ cho các tác phẩm nghe nhìn và các nhà cung cấp tác phẩm đó đáp ứng các tiêu chí xuất xứ. ACIA: không cấp giấy phép đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài trong các lĩnh vực (Biểu cam kết của Việt Nam): 1. Xuất bản sách, sách nhạc và các loại xuất bản phẩm (ISIC 2211); 2. Xuất bản báo, tạp chí, ấn phẩm định kỳ (ISIC 2212); 3. Xuất bản băng đĩa ghi hình (ISIC 2213); 4. Các loại xuất bản khác (ISIC 2219). Riêng tại VN-EAEU-FTA Rạp chiếu phim phải chiếu các phim điện ảnh Việt Nam trong các ngày kỷ niệm của đất nước và để phục vụ cho nhiệm vụ chính trị, xã hội và đối ngoại dưới quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Tỷ lệ phim Việt Nam trên tổng số phim được chiếu hàng năm sẽ không ít hơn 20%. Các rạp phải chiếu ít nhất một phim Việt Nam trong khoảng từ 18:00-22:00. EVFTA, UKFTA (Phụ lục 8-C, tiểu đoạn 1(b)): Đối với ngành sản xuất và phân phối sản phẩm văn hóa, bao gồm vật phẩm ghi hình, Việt Nam có thể ban hành hoặc duy trì bất kỳ biện pháp liên quan đến hoạt động của một doanh nghiệp theo định nghĩa tại điểm 1(e) và 1(m) của Điều 8.2 (Các định nghĩa) mà không phù hợp với khoản 2 Điều 8.5 (Đối xử quốc gia), với điều kiện biện pháp đó không trái với với các cam kết nêu tại Phụ lục 8-B (Biểu cam kết cụ thể của Việt Nam). CPTPP (Phụ lục I – VN – 9): Đối với ngành sản xuất phim (CPC 96112), phát hành phim (CPC 96113) và chiếu phim (CPC 96121): 1. Không được cung cấp dịch vụ sản xuất phim, phát hành và chiếu phim ngoại trừ thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với đối tác Việt Nam được phép cung cấp các dịch vụ này, hoặc mua cổ phần doanh nghiệp Việt Nam được phép cung cấp các dịch vụ này. Trong trường hợp liên doanh hoặc mua cổ phần, vốn góp của bên nước ngoài không được vượt quá 51%. 2. Đối với việc chiếu phim, nhà đầu tư nước ngoài không được phép tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên doanh với các nhà văn hóa, câu lạc bộ và hiệp hội chiếu phim công cộng, các đội chiếu bóng lưu động, hoặc chủ hay người điều hành các điểm chiếu phim tạm thời của Việt Nam. 3. Các rạp chiếu phim phải chiếu phim Việt Nam vào các dịp nghỉ lễ lớn của đất nước. Tỷ lệ phim Việt Nam trên tổng số phim được chiếu hàng năm sẽ không ít hơn 20%. Các rạp phải chiếu ít nhất một phim Việt Nam trong khoảng từ 18:00-22:00. Đối với ngành dịch vụ xuất/nhập khẩu: Không được đầu tư nước ngoài vào các doanh nghiệp thương mại nhà nước của Việt Nam hiện đang được phép nhập khẩu một số vật phẩm ghi hình, như đã nêu tại Bảng 8c trong Báo cáo Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO. Để chắc chắn hơn và nhất quán với Điều 9.11.1.c (Chỉ tiến không lùi), việc tự do hóa một doanh nghiệp thương mại nhà nước không dẫn đến yêu cầu phải tự do hóa tất cả các doanh nghiệp thương mại nhà nước. Đối với ngành sản xuất và phân phối băng đĩa hình: Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng và duy trì bất kỳ biện pháp nào liên quan đến việc đầu tư vào sản xuất và phân phối băng đĩa hình trên bất kỳ chất liệu nào. |
|
Pháp luật Việt Nam: Điều kiện phân phối bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật trên lãnh thổ Việt Nam nhằm mục đích thương mại đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài[1]: 1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được phân phối bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật trên lãnh thổ Việt Nam thực hiện theo quy định tại Nghị định 144/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định về hoạt động nghệ thuật biểu diễn và các quy định khác của pháp luật có liên quan không trái với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Điều kiện lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật nhằm mục đích thương mại:
2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài không được trực tiếp phân phối bản ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật trên lãnh thổ Việt Nam. |
||
|
2 |
Sản xuất, phân phối, chiếu các chương trình ti vi và các tác phẩm ca múa nhạc, sân khấu, điện ảnh |
WTO, VKFTA, VJEPA, ACFTA, AFAS, RCEP (Ngành này thuộc danh mục miễn trừ tối huệ quốc): Đối với ngành sản xuất, phát hành và chiếu các chương trình truyền hình và tác phẩm điện ảnh: các biện pháp dựa vào các thoả thuận về hợp tác sản xuất các tác phẩm nghe nhìn, trong đó dành Đối xử quốc gia cho các tác phẩm nghe nhìn thuộc phạm vi các thoả thuận đó. CPTPP (Phụ lục NCM II-VN-21) Đối với phân ngành sản xuất, phân phối và trình chiếu các chương trình truyền hình và tác phẩm điện ảnh: Việt Nam bảo lưu quyền ban hành và duy trì các loại trợ cấp không phù hợp với Điều 9.9.2 đối với dịch vụ nghe nhìn và đối xử ưu đãi đối với các chương trình truyền hình và tác phẩm điện ảnh được sản xuất trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác sản xuất. EVFTA, UKFTA (Phụ lục 8-C, tiểu đoạn 1(c)) Đối với ngành sản xuất và phân phối các sản phẩm văn hóa, bao gồm vật phẩm ghi hình, Việt Nam có thể ban hành hoặc duy trì bất kỳ biện pháp liên quan đến hoạt động của một doanh nghiệp theo định nghĩa tại điểm 1(e) và 1(m) của Điều 8.2 (Các định nghĩa) mà không phù hợp với khoản 2 Điều 8.5 (Đối xử quốc gia), với điều kiện biện pháp đó không trái với với các cam kết nêu tại Phụ lục 8-B (Biểu cam kết cụ thể của Việt Nam). |
|
Pháp luật Việt Nam: Phân phối bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam[2]: 1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài được phân phối bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật trên lãnh thổ Việt Nam thực hiện theo quy định tại Nghị định 144/2020/NĐ-CP và các quy định khác của pháp luật có liên quan không trái với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài không được trực tiếp phân phối bản ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật trên lãnh thổ Việt Nam. |
||
|
3 |
Cung cấp dịch vụ phát thanh và truyền hình |
CPTPP (Phụ lục NCM II-VN-19): Việt Nam bảo lưu quyền áp dụng hoặc duy trì bất kỳ biện pháp nào liên quan đến các phân ngành liệt kê ở trên, bao gồm cả việc quản lý hoạt động trong các phân ngành trên phù hợp với luật pháp và quy định của Việt Nam. Để chắc chắn hơn, việc không bảo lưu đối với các nghĩa vụ của Chương Dịch vụ xuyên biên giới không có nghĩa là Việt Nam không có quyền đảm bảo việc cung cấp qua biên giới các phân ngành trên phải phù hợp với luật và quy định của Việt Nam, bao gồm cả các yêu cầu về đăng ký và cấp phép. WTO, VKFTA, VJEPA, ACFTA, AFAS, RCEP: Đối với ngành sản xuất và phát hành các tác phẩm nghe nhìn thông qua truyền phát sóng tới công chúng: các biện pháp dành Đối xử quốc gia đối với các tác phẩm nghe nhìn đáp ứng một số tiêu chí xuất xứ liên quan đến việc tiếp cận truyền phát sóng. Lưu ý: Ngành này thuộc phạm vi Miễn trừ tối huệ quốc EVFTA, UKFTA (Phụ lục 8-C, tiểu đoạn 1(a)) Đối với ngành dịch vụ phát thanh và truyền hình, bao gồm vật phẩm ghi hình, Việt Nam có thể ban hành hoặc duy trì bất kỳ biện pháp liên quan đến hoạt động của một doanh nghiệp theo định nghĩa tại điểm 1(e) và 1(m) của Điều 8.2 (Các định nghĩa) mà không phù hợp với khoản 2 Điều 8.5 (Đối xử quốc gia), với điều kiện biện pháp đó không trái với với các cam kết nêu tại Phụ lục 8-B (Biểu cam kết cụ thể của Việt Nam). |
|
Pháp luật Việt Nam: Điều kiện cấp Giấy phép cung cấp dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền[3]: 1. Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải được sự chấp thuận về chủ trương của Thủ tướng Chính phủ. 2. Có phương án cung cấp dịch vụ phù hợp với quy hoạch phát triển dịch vụ phát thanh, truyền hình, quy hoạch truyền dẫn phát sóng phát thanh, truyền hình và các quy hoạch khác trong lĩnh vực phát thanh, truyền hình, thông tin điện tử; 3. Có Giấy phép thiết lập mạng viễn thông hoặc có thoả thuận được thuê, sử dụng mạng viễn thông đáp ứng yêu cầu kỹ thuật truyền dẫn dịch vụ đến các thuê bao kết nối với mạng viễn thông đó đối với dịch vụ quy định tại các Điểm a, b, c, d, Khoản 1 Điều 4 Nghị định 06/2016/NĐ-CP; có xác nhận đăng ký tên miền “.vn” hoặc địa chỉ Internet xác định để cung cấp dịch vụ đến thuê bao đối với dịch vụ quy định tại Điểm đ, Khoản 1 Điều 4 Nghị định 06/2016/NĐ-CP; 4. Có các phương án: Bố trí nguồn nhân lực; đầu tư trang thiết bị kỹ thuật; dự báo và phân tích thị trường dịch vụ; kế hoạch kinh doanh và giá cước dịch vụ, dự toán chi phí đầu tư và chi phí hoạt động ít nhất trong 02 năm đầu tiên; văn bản chứng minh vốn điều lệ hoặc văn bản giá trị tương đương đáp ứng yêu cầu triển khai cung cấp dịch vụ theo dự toán; 5. Có phương án thiết lập trung tâm thu phát tất cả các kênh chương trình trong nước, kênh chương trình nước ngoài tập trung ở một địa điểm, trừ các kênh chương trình thuộc danh mục kênh chương trình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu của địa phương, gồm: Thiết kế kỹ thuật hệ thống thiết bị xử lý tín hiệu, thiết bị kết nối đến mạng truyền dẫn, thiết bị quản lý dịch vụ, quản lý thuê bao và bảo vệ nội dung; 6. Có phương án áp dụng công nghệ kỹ thuật hiện đại phù hợp quy định của Nhà nước về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật bảo đảm chất lượng dịch vụ và an toàn an ninh thông tin; xử lý kịp thời các sự cố kỹ thuật bảo đảm tính liên tục của dịch vụ và quyền lợi của thuê bao; 7. Có dự kiến danh mục kênh chương trình trong nước (trừ các kênh chương trình quy định tại Khoản 4 Điều 13 Nghị định này), kênh chương trình nước ngoài, nội dung theo yêu cầu, nội dung giá trị gia tăng sẽ cung cấp trên dịch vụ phát thanh, truyền hình trả tiền kèm theo các văn bản chấp thuận của đơn vị cung cấp nội dung; 8. Có văn bản thỏa thuận điểm nhận tín hiệu các kênh chương trình phù hợp quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 14 Nghị định 06/2016/NĐ-CP. |
