
1. Thương nhân nước ngoài muốn thành lập VPĐD tại Việt Nam phải đáp ứng điều kiện gì?
Thương nhân nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện sau:
(i). Thương nhân nước ngoài được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên hoặc được pháp luật các quốc gia, vùng lãnh thổ này công nhận;
(ii). Thương nhân nước ngoài đã hoạt động ít nhất 01 năm, kể từ ngày được thành lập hoặc đăng ký;
(iii). Trong trường hợp Giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài có quy định thời hạn hoạt động thì thời hạn đó phải còn ít nhất là 01 năm tính từ ngày nộp hồ sơ;
(vi). Nội dung hoạt động của VPĐD phải phù hợp với cam kết của Việt Nam trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Trường hợp nội dung hoạt động của VPĐD không phù hợp với cam kết của Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài không thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ tham gia điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, việc thành lập VPĐD phải được sự chấp thuận của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quản lý chuyên ngành.
2. Người đứng đầu VPĐD cần phải đáp ứng điều kiện gì?
Hiện tại, quy định pháp luật không quy định cụ thể điều kiện để được bổ nhiệm và trở thành người đứng đầu VPĐD, tuy vậy, người đứng đầu VPĐD là người phải chịu trách nhiệm trước thương nhân nước ngoài về hoạt động của mình và của VPĐD trong phạm vi được thương nhân nước ngoài ủy quyền. Do đó, về cơ bản người đứng đầu VPĐD phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật dân sự để có thể đại diện theo ủy quyền. Cụ thể là phải từ đủ 18 tuổi trở lên và không bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 6 Điều 33 Nghị định 07/2016/NĐ-CP thì người đứng đầu VPĐD của một thương nhân nước ngoài không được kiêm nhiệm các chức vụ sau:
- Người đứng đầu chi nhánh của cùng một thương nhân nước ngoài;
- Người đứng đầu chi nhánh của thương nhân nước ngoài khác;
- Người đại diện theo pháp luật của thương nhân nước ngoài đó hoặc thương nhân nước ngoài khác;
- Người đại diện theo pháp luật của tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định pháp luật Việt Nam.
Một vấn đề khác mà người đứng đầu VPĐD cần lưu ý, là việc người đứng đầu VPĐD phải có văn bản ủy quyền cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đứng đầu VPĐD theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Việc ủy quyền này phải được sự đồng ý của thương nhân nước ngoài. Người đứng đầu VPĐD vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.
3. Thay đổi loại hình doanh nghiệp của thương nhân nước ngoài thì có cần điều chỉnh Giấy phép thành lập VPĐD hay không?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Nghị định 07/2016/NĐ-CP, thương nhân nước ngoài phải làm thủ tục điều chỉnh Giấy phép thành lập VPĐD nếu có sự thay đổi tên gọi của thương nhân nước ngoài. Thông thường, tên gọi của thương nhân nước ngoài sẽ hàm chứa tên loại hình doanh nghiệp của thương nhân nước ngoài. Trường hợp này, việc thay đổi loại hình doanh nghiệp, dẫn đến thay đổi tên gọi của thương nhân nước ngoài và thương nhân nước ngoài sẽ phải làm thủ tục điều chỉnh Giấy phép thành lập VPĐD. Ngược lại, nếu việc thay đổi loại hình doanh nghiệp của thương nhân nước ngoài không làm thay đổi tên gọi của thương nhân nước ngoài, thương nhân nước ngoài sẽ không phải thực hiện thủ tục này.
4. Trong quá trình hoạt động, thương nhân nước ngoài muốn thay đổi người đứng đầu VPĐD thì phải thực hiện thủ tục pháp lý nào?
Vì thông tin về người đứng đầu VPĐD là một trong những thông tin quan trọng trong hồ sơ thành lập VPĐD, đồng thời, đây cũng là thông tin thể hiện trên giấy phép thành lập VPĐD của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. Do đó, khi thay đổi người đứng đầu VPĐD, thương nhân nước ngoài phải thực hiện thủ tục điều chỉnh giấy phép thành lập VPĐD tại cơ quan cấp phép của Việt Nam.
5. Giấy tờ có giá trị tương đương với Giấy đăng ký kinh doanh của thương nhân nước ngoài có thể là loại giấy nào?
Tùy theo quy định tại quốc gia đăng ký của thương nhân nước ngoài, thương nhân nước ngoài có thể tồn tại Giấy đăng ký kinh doanh (Certificate of Incorporation) hoặc Giấy phép kinh doanh (Business License) hoặc thậm chí cả hai loại giấy tờ này. Trên thực tế, theo nội dung trả lời của Sở Công thương TP. HCM cũng như kinh nghiệm thực hiện thủ tục này trên thực tế của chúng tôi tại Tp. Hồ Chí Minh chỉ có Giấy phép kinh doanh (Business License/Business Registration) là có giá trị tương đương và được hiểu là Giấy phép kinh doanh quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 10 Nghị định 07/2016/NĐ-CP. Tuy nhiên, nếu Sở Công thương TP. HCM vận dụng cách hiểu này khi xem xét hồ sơ thành lập VPĐD sẽ gây khó khăn đối với các thương nhân chỉ có Giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của quốc gia đăng ký. Đồng thời, đây chỉ là nội dung phản hồi của Sở Công thương TP. HCM, chưa có văn bản quy định chính thức và cũng chưa mang tính áp dụng chung đối với các cơ quan cấp phép khác. Đối với một số Sở Công Thương của các tỉnh, thành khác của Việt Nam, HM&P nhận thấy các đơn vị này vẫn chấp nhận Giấy đăng ký kinh doanh (Certificate of Incorporation) hoặc Giấy phép kinh doanh (Business License) trong quá trình cấp phép cho thương nhân nước ngoài.
6. Giấy phép thành lập VPĐD được gia hạn sẽ có thời hạn bao lâu và được gia hạn tối đa bao nhiêu lần?
Theo quy định tại Khoản 1, Khoản 3 Điều 9 Nghị định 07/2016/NĐ-CP, trường hợp được gia hạn, giấy phép thành lập VPĐD sẽ có thời hạn 05 năm nhưng không vượt quá thời hạn còn lại của Giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài trong trường hợp giấy tờ đó có quy định về thời hạn. Điều này có nghĩa giấy phép này sẽ có thời hạn tối đa 05 năm. Tuy nhiên, nếu Giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài có quy định về thời hạn thì thời hạn của giấy phép thành lập VPĐD sẽ tuân theo thời hạn của các giấy tờ kể trên.
Quy định pháp luật hiện hành không giới hạn số lần VPĐD được gia hạn giấy phép thành lập. Tuy nhiên, khi gia hạn giấy phép thành lập, thương nhân nước ngoài vẫn phải nộp 01 bộ hồ sơ tương tự như khi thành lập mới VPĐD (không bao gồm tài liệu về việc bổ nhiệm người đứng dầu VPĐD, giấy tờ pháp lý của người đứng đầu VPĐD và tài liệu về trụ sở VPĐD), liên quan đến các điều kiện về hoạt động và giấy phép của thương nhân nước ngoài ở nước ngoài. Do đó, thương nhân nước ngoài vẫn cần phải đảm bảo các điều kiện này trong mỗi lần gia hạn giấy phép thành lập VPĐD.
7. VPĐD có quyền được trực tiếp tuyển dụng người lao động Việt Nam không?
Trước đây, theo quy định tại Điều 6 Nghị định 75/2014/NĐ-CP thì VPĐD không được trực tiếp tuyển dụng người lao động Việt Nam để làm việc tại VPĐD mà phải thông qua tổ chức có thẩm quyền tuyển, quản lý người lao động Việt Nam. Sau thời hạn nhất định, nếu tổ chức này không tuyển dụng được thì VPĐD mới có quyền trực tiếp tuyển dụng người lao động Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay, theo quy định tại Điều 24 Nghị định 152/2020/NĐ-CP thì VPĐD có quyền trực tiếp tuyển dụng người lao động Việt Nam vào làm việc tại VPĐD. Việc tuyển dụng người lao động Việt Nam thông qua tổ chức dịch vụ việc làm, doanh nghiệp cho thuê lại lao động hoặc tổ chức có thẩm quyền tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam chỉ là các lựa chọn khác của VPĐD.
Mặc dù vậy, VPĐD vẫn có nghĩa vụ phải thông báo cho tổ chức có thẩm quyền tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam sau khi đã tuyển dụng người lao động Việt Nam. Cụ thể, trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày ký kết hợp đồng lao động với người lao động Việt, VPĐD phải thông báo bằng văn bản kèm (i) bản sao có chứng thực hợp đồng lao động đã ký kết với người lao động Việt Nam; (ii) bản sao có chứng thực của một trong các giấy tờ sau: giấy khai sinh hoặc chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân; và (iii) bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ về trình độ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ, ngoại ngữ liên quan đến công việc mà người lao động đăng ký dự tuyển cho tổ chức có thẩm quyền tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam.
8. Thương nhân nước ngoài có cần phải có phải có mặt tại Việt Nam khi tiến hành thành lập VPĐD?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 13 Nghị định 07/2016/NĐ-CP, việc nộp hồ sơ thành lập VPĐD được thực hiện qua hình thức trực tiếp hoặc qua đường bưu điện hoặc trực tuyến (nếu đủ điều kiện áp dụng) đến Cơ quan cấp giấy phép. Do đó, thương nhân nước ngoài không cần phải có mặt tại Việt Nam khi thành lập VPĐD. Quá trình thành lập VPĐD chỉ bao gồm công tác nộp hồ sơ, nhận giấy phép và điều chỉnh hồ sơ theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước (nếu có). Do đó, thương nhân nước ngoài có thể nộp hồ sơ qua đường bưu điện hoặc trực tuyến hoặc thông qua một bên thứ ba như các công ty luật, văn phòng luật sư tại Việt Nam để đại diện thực việc nộp hồ sơ và nhận giấy phép.
9. Người đứng đầu VPĐD là người nước ngoài có phải xin giấy phép lao động không?
Theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 151, Khoản 3 Điều 154 Bộ luật Lao động 2019 thì hiện tại người nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải có giấy phép lao động, và chỉ có Trưởng VPĐD, dự án hoặc chịu trách nhiệm chính về hoạt động của tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam mới được miễn Giấy phép lao động.
Đối với trưởng VPĐD của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam (không phải tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ) sẽ không thuộc diện được miễn cấp giấy phép lao động và cần tiến hành thủ tục xin cấp giấy phép lao động quy định của pháp luật.
10. VPĐD có phải chịu các nghĩa vụ thuế không?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 18 Luật Thương mại 2005, VPĐD không có chức năng kinh doanh. Do đó, VPĐD không phải kê khai và nộp lệ phí môn bài, thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp, kể cả trường hợp thanh lý tài sản đã mua của VPĐD. Điều này cũng đã được xác nhận và thể hiện qua Công văn 1279/TCT-CS ngày 04/4/2017 của Tổng Cục thuế và Công văn 57837/CTHN-TTHT ngày 25/11/2022 của Cục Thuế TP. Hà Nội. Tuy nhiên, trường hợp VPĐD sử dụng lao động và chi trả lương cho người lao động thì VPĐD có trách nhiệm kê khai, khấu trừ, nộp thuế vào ngân sách nhà nước và quyết toán thuế đối với các loại thu nhập chịu thuế trả cho người lao động, căn cứ theo quy định tại Điều 24 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007.
11. Việc thành lập VPĐD của tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài tại Việt Nam có tương tự với VPĐD của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam không?
Theo quy định hiện hành, VPĐD của tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài tại Việt Nam hoàn toàn khác biệt so với VPĐD của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. Cụ thể, trong khi việc thành lập, tổ chức và hoạt động của VPĐD của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam được điều chỉnh bởi Nghị định 07/2016/NĐ-CP, trong khi đó, việc thành lập, tổ chức và hoạt động của VPĐD của tổ chức xúc tiến thương mại nước ngoài tại Việt Nam lại được quy định tại Nghị định 28/2018/NĐ-CP. Mặc dù vậy, về cơ bản, thủ tục thành lập hai loại VPĐD này là tương đối giống nhau về cả trình tự, cơ quan cấp phép lẫn hồ sơ.
12. VPĐD có được mở tài khoản tiết kiệm không?
Pháp luật thương mại quy định về việc VPĐD không được thực hiện các hoạt động sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam, chẳng hạn: các hoạt động thương mại như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Việc mở tài khoản tiết kiệm nhằm gửi tiền và nhận tiền lãi là một hoạt động nhằm mục đích sinh lợi cho VPĐD. Do đó, VPĐD không được phép thực hiện hoạt động này.
13. VPĐD tiếp tục hoạt động nhưng không gia hạn giấy phép thành lập VPĐD có thể phải chịu chế tài nào?
Theo quy định hiện hành, VPĐD phải nộp hồ sơ gia hạn giấy phép thành lập trong thời hạn 30 ngày trước ngày hết hạn. Trường hợp không gia hạn giấy phép thành lập VPĐD mà vẫn tiếp tục hoạt động, căn cứ theo quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 67, Điểm b Khoản 4 Điều 4 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, VPĐD có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 60.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.
14. Người đứng đầu VPĐD tại Việt Nam có được tự mình giao kết hợp đồng tại Việt Nam không?
Người đứng đầu VPĐD có thể tự mình giao kết hợp đồng trong một số trường hợp, cụ thể như thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của VPĐD; tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại VPĐD theo quy định của pháp luật Việt Nam; mở tài khoản bằng ngoại tệ, bằng đồng Việt Nam có gốc ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam và chỉ được sử dụng tài khoản này vào hoạt động của VPĐD. Các trường hợp khác, người đứng đầu VPĐD chỉ được giao kết hợp đồng theo sự ủy quyền của thương nhân nước ngoài. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 18 Luật Thương mại 2005, việc ủy quyền của thương nhân nước ngoài cho người đứng đầu VPĐD phải được lập thành giấy ủy quyền.
15. Giấy phép thành lập VPĐD được gia hạn sẽ có thời hạn như thế nào?
Như đã đề cập tại Mục 13, VPĐD phải nộp hồ sơ gia hạn giấy phép thành lập trong thời hạn 30 ngày trước ngày hết hạn. Tuy nhiên, trên thực tế, khi chưa đến thời hạn này, VPĐD vẫn có thể nộp hồ sơ gia hạn giấy phép thành lập và một số Sở Công thương vẫn tiếp nhận, giải quyết hồ sơ. Trong trường hợp này, thời hạn của giấy phép thành lập VPĐD sau khi được gia hạn sẽ tính từ thời điểm giấy phép này được gia hạn, hay nói cách khác, là thời điểm mà cơ quan cấp phép tiếp nhận, giải quyết hồ sơ gia hạn.
16. VPĐD có phải thực hiện nghĩa vụ báo cáo hàng năm không? Trường hợp không báo cáo hàng năm VPĐD có phải chịu chế tài nào không?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 32 NĐ 07/2016/NĐ-CP, trước ngày 30 tháng 01 hàng năm, VPĐD có trách nhiệm gửi báo cáo theo mẫu của Bộ Công thương (Mẫu BC1 ban hành kèm theo Thông tư 11/2016/TT-BCT) về hoạt động của mình trong năm trước đó qua đường bưu điện tới Cơ quan cấp giấy phép. Trường hợp không thực hiện báo cáo định kỳ hoặc báo cáo không trung thực về hoạt động của VPĐD, VPĐD có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, căn cứ vào quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 67, Điểm b Khoản 4 Điều 4 Nghị định 98/2020/NĐ-CP.
17. VPĐD đang phát sinh tranh chấp với người lao động hoặc bên thứ ba khác thì có thể chấm dứt hoạt động không?
Như sẽ phân tích tại Mục 19 dưới đây, bản chất hoạt động của VPĐD thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là dựa trên sự ủy quyền của thương nhân nước ngoài. Do đó, các tranh chấp phát sinh giữa người lao động hoặc bên thứ ba khác với VPĐD thực chất là tranh chấp với thương nhân nước ngoài. Do đó, điều này không ảnh hưởng đến việc chấm dứt hoạt động của VPĐD. Không những vậy, theo quy định hiện hành, sau khi chấm dứt hoạt động của VPĐD, thương nhân nước ngoài phải chịu trách nhiệm thực hiện các hợp đồng, thanh toán các khoản nợ, gồm cả nợ thuế và giải quyết đủ quyền lợi hợp pháp cho người lao động đã làm việc tại VPĐD. Do đó, có thể thấy, việc phát sinh tranh chấp không ảnh hưởng đến khả năng VPĐD có thể chấm dứt hoạt động.
18. VPĐD khi chấm dứt hoạt động cần thực hiện những nghĩa vụ gì?
Trước tiên, VPĐD cần nộp hồ sơ chấm dứt hoạt động của VPĐD trực tiếp hoặc qua đường bưu điện hoặc trực tuyến (nếu đủ điều kiện áp dụng) đến cơ quan cấp giấy phép. Hồ sơ thông báo chấm dứt VPĐD gồm các tài liệu sau:
- Thông báo về việc chấm dứt hoạt động VPĐD theo mẫu của Bộ Công thương do đại diện có thẩm quyền của thương nhân nước ngoài ký, trừ trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập VPĐD;
- Bản sao văn bản của cơ quan cấp giấy phép không gia hạn giấy phép thành lập VPĐD (đối với trường hợp hết thời gian hoạt động theo giấy phép thành lập VPĐD mà không được cơ quan cấp giấy phép đồng ý gia hạn) hoặc bản sao Quyết định thu hồi giấy phép thành lập VPĐD của cơ quan cấp giấy phép (đối với trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập VPĐD);
- Danh sách chủ nợ và số nợ chưa thanh toán, gồm cả nợ thuế và nợ tiền đóng bảo hiểm xã hội;
- Danh sách người lao động và quyền lợi tương ứng hiện hành của người lao động;
- Bản chính giấy phép thành lập VPĐD.
Sau đó, VPĐD thực hiện niêm yết công khai về việc chấm dứt hoạt động tại trụ sở của VPĐD. Cuối cùng, thương nhân nước ngoài có VPĐD đã chấm dứt hoạt động chịu trách nhiệm thực hiện các hợp đồng, thanh toán các khoản nợ, gồm cả nợ thuế và giải quyết đủ quyền lợi hợp pháp cho người lao động đã làm việc tại VPĐD theo quy định của pháp luật.
19. VPĐD có quyền chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động không?
Trên thực tế, nhiều trường hợp VPĐD mong muốn chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động đang làm việc tại VPĐD nhưng loay hoay về việc liệu VPĐD có quyền để chấm dứt hợp đồng lao động không. Để xác định VPĐD có quyền chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động hay không, cần làm rõ vấn đề ai là người sử dụng lao động trong mối quan hệ lao động với người lao động làm việc tại VPĐD. Theo quy định tại Khoản 6 Điều 3 Luật Thương mại 2005, VPĐD là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, hoạt động theo ủy quyền của thương nhân nước ngoài. Do đó, có thể thấy, các hoạt động của VPĐD thực chất là những hoạt động được ủy quyền của thương nhân nước ngoài. Mặc dù vậy, để có thể thành lập và hoạt động tại Việt Nam, VPĐD cần thực hiện một số công việc nhất định, phục vụ cho hoạt động của VPĐD như thuê trụ sở, tuyển dụng lao động,… Do đó, Khoản 3 Điều 17 Luật Thương mại 2005 đã quy định VPĐD có quyền tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại VPĐD theo quy định của pháp luật Việt Nam. Theo chúng tôi, đây thực chất vẫn là quyền mà VPĐD có được dựa trên việc đại diện cho thương nhân nước ngoài (hình thức đại diện theo pháp luật theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Dân sự 2015). Do đó, bản chất việc VPĐD ký kết hợp đồng lao động với người lao động là đang đại diện cho thương nhân nước ngoài để ký kết, quan hệ lao động vẫn phát sinh giữa thương nhân nước ngoài và người lao động. Luật cho phép VPĐD được thực hiện việc tuyển dụng người lao động, nhưng không đề cập đến các quyền khác mà người sử dụng lao động có trong quan hệ lao động với người lao động. Do đó, nếu VPĐD muốn chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động, VPĐD phải có giấy ủy quyền từ thương nhân nước ngoài để thực hiện việc này. Đồng thời, thủ tục để chấm dứt hợp đồng lao động phải tuân thủ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Theo ý kiến của chúng tôi, hoạt động của VPĐD ngoài việc tuân thủ quy định pháp luật, còn tuân theo Quy chế hoạt động của VPĐD do thương nhân nước ngoài quyết định. Do đó, việc ủy quyền cho VPĐD thực hiện việc chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động có thể được quy định trong Quy chế hoạt động. Tuy vậy, cần lưu ý rằng, thương nhân nước ngoài vẫn phải chịu trách nhiệm đối với hoạt động của VPĐD trong phạm vi đã ủy quyền.
Tuyên bố miễn trừ: Tài liệu này không được biên soạn cho bất kỳ một tình huống cụ thể nào của khách hàng. Nội dung tài liệu không cấu thành ý kiến tư vấn pháp lý của chúng tôi dưới bất kỳ hình thức nào. Trường hợp cần sự tư vấn cụ thể, quý khách vui lòng liên hệ chúng tôi.
Vui lòng xem và tải file PDF của ấn phẩm tại đây.
