Hoạt động phẫu thuật thẩm mỹ là lĩnh vực kết hợp giữa y học và dịch vụ làm đẹp, đòi hỏi vừa phải đảm bảo an toàn y khoa, vừa cần tính linh hoạt để phục vụ nhu cầu dịch vụ trên thị trường. Tuy nhiên, trong thực tiễn pháp luật Việt Nam hiện nay, khung quản lý lại đang được thiết kế theo hướng thắt chặt nhưng cũng còn thiếu khoa học, dẫn đến một số khó khăn trong hoạt động kinh doanh và tiềm ẩn rủi ro gia tăng hoạt động ngoài vòng kiểm soát của pháp luật.

Đồng nhất cơ sở phẫu thuật thẩm mỹ với cơ sở khám chữa bệnh gây ra nhiều hệ lụy
Theo quy định hiện hành, các cơ sở kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ, tức sử dụng kỹ thuật y học để phẫu thuật (giải phẫu) làm thay đổi hình dáng, đặc điểm nhận dạng con người bắt buộc phải được tổ chức dưới một trong ba hình thức: bệnh viện, phòng khám đa khoa hoặc phòng khám chuyên khoa[1]. Quy định này trên thực tế đã đặt cơ sở phẫu thuật thẩm mỹ tương tự như một cơ sở khám chữa bệnh thông thường, mặc dù mục tiêu hoạt động của hai nhóm này hoàn toàn khác nhau.
Phẫu thuật thẩm mỹ, xét về bản chất, không nhằm mục đích điều trị bệnh lý hay khôi phục chức năng sinh học, mà chủ yếu phục vụ nhu cầu thẩm mỹ, cải thiện ngoại hình theo nguyện vọng cá nhân. Việc áp dụng cùng một bộ tiêu chuẩn tổ chức, nhân lực, cơ sở vật chất như bệnh viện hay phòng khám điều trị bệnh đã khiến quy định trở nên thiếu tính khoa học, dẫn đến một số tác động tiêu cực trên thực tế có thể kể đến như sau:
Chi phí tuân thủ vượt quá năng lực của doanh nghiệp.
Lấy ví dụ, Nghị định 96/2023/NĐ-CP yêu cầu bệnh viện phẫu thuật thẩm mỹ phải có quy mô tối thiểu diện tích sàn xây dựng 50m²/giường, mặt tiền rộng ít nhất 10m, có đường đi cho xe cứu thương ra vào khu vực cấp cứu, có đầy đủ phòng ban chuyên khoa và nhân sự hành nghề[2]. Tuy nhiên, đối với hoạt động phẫu thuật thẩm mỹ nơi phần lớn các ca phẫu thuật là tiểu phẫu hoặc và không cần nằm viện dài ngày thì các điều kiện này có phần chưa phù hợp với tính chất chuyên môn.
Những yêu cầu này có thể hợp lý đối với bệnh viện đa khoa hoặc chuyên khoa điều trị bệnh lý, nhưng lại vượt xa nhu cầu thực tế của các cơ sở phẫu thuật thẩm mỹ. Để được cấp phép hoạt động, cơ sở phải đầu tư rất nhiều nguồn lực để xây dựng mặt bằng đạt chuẩn, mua sắm thiết bị y tế, bố trí hệ thống phòng ban và sắp xếp nhân sự. Chi phí tuân thủ cao như trên có thể tạo nên rào cản gia nhập thị trường cho nhiều nhà đầu tư, dẫn đến thị trường bị thu hẹp vào tay một số nhà đầu tư lớn, trong khi nhu cầu thẩm mỹ của xã hội ngày càng đa dạng và mang tính cá nhân hóa cao.
Ngoài ra, với chi phí tuân thủ bị đẩy lên cao bất hợp lý, giá dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ cũng sẽ đồng thời tăng theo và khách hàng cũng sẽ là đối tượng chịu thêm những khoản chi phí này. Do đó, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp đã phải tính toán để siết chặt chi phí để có thể “kéo chân” khách hàng, duy trì hoạt động vô hình trung làm giảm chất lượng dịch vụ.
Có thể nói, cách tiếp cận quản lý theo hình thức tổ chức thay vì quản lý theo mức độ chuyên môn có thể dẫn đến gánh nặng về hành chính và thiếu linh hoạt với đặc thù của lĩnh vực thẩm mỹ học hiện đại. Quản lý chặt chưa phải là quản lý hiệu quả nếu quy định không phản ánh đúng bản chất của hoạt động và khả năng tuân thủ của chủ thể.
Sự gia tăng của dịch vụ thẩm mỹ trái phép và rủi ro cho khách hàng.
Một điều đáng lo ngại khác chính là việc siết chặt quá mức điều kiện đầu vào có thể góp phần dẫn đến tình trạng các chủ cơ sở cố tình làm trái quy định bởi không thể đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe và hằng năm vẫn thu về khoản lợi nhuận không hề nhỏ. Một số cơ sở đăng ký dưới hình thức spa, thẩm mỹ viện không xâm lấn nhưng thực tế vẫn thực hiện các ca phẫu thuật can thiệp vào mô cơ thể. Khi xảy ra tai biến, việc truy cứu trách nhiệm pháp lý trở nên phức tạp do cơ sở không được cấp phép đúng phạm vi hoạt động.
Hệ quả là mục tiêu bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng của chính sách ban đầu có thể bị phản tác dụng khi người sử dụng dịch vụ trở thành đối tượng phải gánh chịu rủi ro cao nhất về sức khỏe và tính mạng. Trên thực tế, không ít vụ tai biến nghiêm trọng trong thời gian qua đều xuất phát từ các cơ sở không phép hoặc hoạt động sai phạm, cho thấy nếu không có sự quản lý một cách khoa học có thể dẫn đến hậu quả tiêu cực thay vì chính sách bảo vệ người dùng ban đầu[3].

Nguồn: VTV
Cần khung quản lý linh hoạt và khoa học hơn
Để giảm thiểu khó khăn cho các cơ sở trong hoạt động kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ và các rủi ro tiềm ẩn cho người tiêu dùng, điều quan trọng là phải thiết lập một khung pháp lý linh hoạt hơn, cân bằng giữa yêu cầu an toàn và khả năng tiếp cận của thị trường, thu hút sự tham gia của các cá nhân, tổ chức giỏi chuyên môn, vận hành trong lĩnh vực hết sức đặc thù này.
Thứ nhất, cần tách bạch rõ giữa phẫu thuật thẩm mỹ và khám, chữa bệnh truyền thống
Như đã đề cập ở trên, phần lớn hoạt động phẫu thuật thẩm mỹ không phải là để điều trị bệnh lý mà là can thiệp ngoại khoa nhằm cải thiện thẩm mỹ theo nguyện vọng cá nhân. Trong khi đó, các quy định về cơ sở kinh doanh hoạt động này đang được đánh đồng với các cơ sở khám, chữa bệnh thông thường khác.
Vì vậy, nên có sự chỉnh sửa, bổ sung các quy định riêng như tại Nghị định 96/2023/NĐ-CP liên quan đến các điều kiện và quản lý đối với cơ sở phẫu thuật thẩm mỹ nhằm chuyển từ “ngăn ngừa rủi ro bằng cách siết chặt toàn diện” sang “kiểm soát rủi ro bằng phân loại và tiêu chuẩn hóa”. Các quy định riêng sẽ tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho những cơ sở đủ năng lực chuyên môn được mở rộng phạm vi hoạt động, khuyến khích đầu tư hợp pháp và chuyên nghiệp hóa ngành thẩm mỹ, tránh tình trạng cơ sở “chui” lẩn tránh pháp luật vì điều kiện cấp phép quá cao và đảm bảo an toàn cho người sử dụng dịch vụ.
Thứ hai, tham khảo ban hành quy định dựa trên cấp độ và rủi ro trong phẫu thuật thẩm mỹ
Cơ quan Nhà nước có thể tham khảo ban hành quy định điều chỉnh hoạt động phẫu thuật thẩm mỹ dựa trên đặc tính xâm lấn, phương thức gây mê và khả năng ảnh hưởng đến chức năng sinh lý của người được phẫu thuật. Mỗi cấp độ tương ứng với yêu cầu pháp lý riêng về cơ sở vật chất, nhân sự và thẩm quyền chuyên môn.
Chẳng hạn, có thể xây dựng ba cấp độ quản lý cơ bản như dưới đây, trong đó, các yêu cầu và tiêu chí cụ thể cần có sự tham vấn thêm từ các chuyên gia trong lĩnh vực y tế:
Cấp độ 1 – Rủi ro thấp: bao gồm các thủ thuật đơn giản chỉ cần gây tê tại chỗ và không làm thay đổi đáng kể cấu trúc cơ thể, như cắt mí, tạo hình môi. Các thủ thuật này có thể thực hiện tại phòng thủ thuật chuyên biệt, đáp ứng chuẩn vô khuẩn và có sẵn thiết bị cấp cứu cơ bản.
Cấp độ 2 – Rủi ro trung bình: bao gồm các phẫu thuật có gây mê nhẹ hoặc thay đổi cấu trúc cơ thể ở mức nhất định như nâng mũi cấu trúc. Những thủ thuật này nên được giới hạn tại phòng khám ngoại khoa chuyên sâu, có phòng mổ đạt chuẩn, khu hồi sức sơ bộ và bác sĩ gây mê hồi sức chuyên trách.
Cấp độ 3 – Rủi ro cao: gồm các phẫu thuật cần gây mê toàn thân hoặc có khả năng ảnh hưởng lớn đến sinh lý như gọt cằm, hạ gò má. Các phẫu thuật này chỉ được phép tại bệnh viện chuyên khoa hoặc cơ sở phẫu thuật độc lập có khu hồi sức tích cực, điều trị nội trú và đội ngũ túc trực 24/7.
Phân loại này vừa giúp cơ quan quản lý tăng cường kiểm soát an toàn y khoa, vừa tránh việc áp dụng một khung điều kiện cứng cho mọi cơ sở, gây hạn chế quyền kinh doanh của các phòng khám hợp pháp. Đồng thời, việc xác định rõ ràng ranh giới giữa các cấp độ còn tạo điều kiện cho cơ chế cấp phép minh bạch hơn, giúp người hành nghề và người tiêu dùng dễ dàng nhận biết đâu là dịch vụ được thực hiện đúng thẩm quyền. Ở tầm dài hạn, mô hình này cũng mở ra khả năng chuẩn hóa đào tạo bác sĩ thẩm mỹ theo từng cấp độ hành nghề, từ đó nâng cao tính chuyên nghiệp và giảm thiểu rủi ro pháp lý trong lĩnh vực phẫu thuật thẩm mỹ tại Việt Nam.
Tóm lại, trong bối cảnh phẫu thuật thẩm mỹ là lĩnh vực vừa mang tính y học và vừa mang tính chất dịch vụ làm đẹp, điều cần thiết là phải có một khung pháp lý hiện đại song hành giữa quản lý chặt chẽ rủi ro chuyên môn và linh hoạt trong điều kiện hành nghề, dựa trên nguyên tắc phân loại và kiểm soát theo mức độ rủi ro y khoa. Khi các tiêu chuẩn được thiết kế hợp lý và khả thi, pháp luật sẽ không chỉ bảo vệ sức khỏe cộng đồng mà còn thúc đẩy sự phát triển bài bản của một ngành nghề đang mang lại giá trị kinh tế đáng kể cho xã hội.
Luật sư Nguyễn Văn Phúc - Chu Lê Quỳnh Ngân
Công ty Luật TNNH HM&P
Xem thêm: Kinh doanh phẫu thuật thẩm mỹ – quản chặt nhưng phải khoa học
[1] Điều 3.20 Nghị định 96/2016/NĐ-CP; Điều 40.12(a), 41, 42 và 43 Nghị định 96/2023/NĐ-CP.
[2] Điều 41 Nghị định 96/2023/NĐ-CP.
[3] https://medinet.gov.vn/xu-ly-quang-cao-va-hanh-nghe-trai-phep-trong-linh-vuc-y-te/so-y-te-tphcm-02-co-so-hanh-nghe-phau-thuat-tham-my-trai-phep-gay-tai-bien-nang-cmobile16616-71974.aspx, truy cập ngày 08/11/2025.
