Nghị định 75/2019/NĐ-CP ngày 26/9/2019 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh (Nghị định 75) là một văn bản pháp lý quan trọng, nhằm tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật cạnh tranh, bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị định này thay thế Nghị định 185/2013/NĐ-CP, bổ sung và chi tiết hóa các quy định của Luật Cạnh tranh 2018, tập trung vào các hành vi vi phạm như lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh và các hành vi khác ảnh hưởng đến trật tự cạnh tranh.

Trụ sở chính của Bộ Công Thương. Nguồn: Tuổi Trẻ
Từ khi ban hành đến nay, Nghị định 75 đã được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn, với hàng trăm vụ việc được xử lý, thu về hàng trăm tỷ đồng tiền phạt. Theo Báo cáo tổng kết của Bộ Công Thương, từ năm 2019 đến tháng 6 năm 2025, cơ quan quản lý đã xử lý hơn 200 vụ vi phạm, với tổng mức phạt lên đến hơn 1.000 tỷ đồng[1]. Những con số này cho thấy Nghị định đã góp phần đáng kể vào việc răn đe và xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như người tiêu dùng. Tuy nhiên, sau hơn 5 năm thực thi, báo cáo tổng kết cũng chỉ ra nhiều hạn chế, vướng mắc trong nội dung và cơ chế áp dụng, dẫn đến hiệu quả thực tiễn chưa cao, một số vụ việc xử lý kéo dài hoặc thiếu đồng bộ.
Bài viết phân tích các hạn chế của Nghị định 75 đồng thời đề xuất hướng khắc phục nhằm hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hiệu quả thực thi. Việc nhận diện và khắc phục những bất cập này không chỉ giúp Nghị định 75 phát huy vai trò lớn hơn mà còn góp phần xây dựng môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch, phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Thực tế thực thi Nghị định 75
Theo Báo cáo của Bộ Công Thương, từ ngày 1/7/2019 đến tháng 6/2025, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng đã tiếp nhận và xử lý 214 vụ việc vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh. Trong đó, nổi bật là các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường (chiếm khoảng 40%), thỏa thuận hạn chế cạnh tranh (25%) và cạnh tranh không lành mạnh (20%). Các vụ việc lớn như xử phạt Công ty TNHH MTV Nước sạch và vệ sinh môi trường Hà Nội (Hanoi Water) với mức phạt 200 triệu đồng vì lạm dụng vị trí thống lĩnh, hay các tập đoàn lớn như Vinamilk, Masan bị xử lý do hành vi phân phối độc quyền hạn chế cạnh tranh, đã tạo tiền lệ tích cực trong việc tuân thủ hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp.
Số liệu thống kê cũng cho thấy phần nào hiệu quả việc việc xử lý vi phạm hành chính. Năm 2019, chỉ xử lý 24 vụ với tổng phạt 150 tỷ đồng; đến năm 2023, con số tăng lên 50 vụ với hơn 300 tỷ đồng. Đến quý II/2025, đã xử lý thêm 15 vụ, thu về 100 tỷ đồng[2]. Những kết quả này phản ánh sự nỗ lực của cơ quan nhà nước trong việc tăng cường thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất. Tuy nhiên, đằng sau những con số ấn tượng là nhiều bất cập nội tại của Nghị định, dẫn đến tình trạng xử lý chậm trễ, mức phạt chưa đủ răn đe ở một số trường hợp, và thiếu cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả. Các hạn chế này không chỉ xuất phát từ nội dung quy định mà còn từ thực tiễn áp dụng, đòi hỏi phải có những điều chỉnh kịp thời để phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế số và thương mại điện tử.
Các hạn chế chính của Nghị định 75
Quá trình thực thi Nghị định 75 có thể nhận thấy hai hạn chế chính của Nghị định này: (1) Hạn chế về nội dung quy định và (2) Hạn chế trong cơ chế thực thi. Những bất cập này đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả xử phạt, khiến một số hành vi vi phạm bị bỏ qua hoặc được xử lý không triệt để.
Thứ nhất, hạn chế về mức độ chi tiết và tính khả thi của các quy định xử phạt.
Nghị định 75 quy định rõ các hành vi vi phạm và mức phạt tương ứng, từ cảnh cáo đến phạt tiền lên đến 10% doanh thu năm trước của doanh nghiệp vi phạm. Tuy nhiên, thực tiễn chỉ ra rằng một số quy định còn chung chung, thiếu hướng dẫn cụ thể về cách xác định "vị trí thống lĩnh thị trường" hoặc "thỏa thuận hạn chế cạnh tranh". Điều 8 Nghị định quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh nhưng không làm rõ ngưỡng thị phần, dẫn đến khó khăn trong việc chứng minh hành vi. Trong thực tiễn, từ 2019-2023, có đến 15% vụ việc bị đình chỉ do thiếu chứng cứ xác định thị phần, như trường hợp xử lý các doanh nghiệp thương mại điện tử nghi ngờ thỏa thuận giá cả nhưng không thể định lượng chính xác tác động đến thị trường.
Hơn nữa, mức phạt tối đa 10% doanh thu nghe có vẻ nghiêm khắc nhưng thực tế chưa đủ răn đe với các tập đoàn lớn. Báo cáo trích dẫn vụ việc của một số doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, nơi mức phạt chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với lợi nhuận, dẫn đến tình trạng vi phạm tái diễn. Đến năm 2024, có ít nhất 5 vụ tái phạm được ghi nhận, chủ yếu trong lĩnh vực phân phối sản phẩm hàng tiêu dùng nhanh, nơi các thỏa thuận độc quyền ngầm vẫn tồn tại. Điều này cho thấy Nghị định chưa có cơ chế phạt bổ sung như tịch thu lợi nhuận bất chính hoặc cấm hoạt động tạm thời, khiến hiệu quả răn đe bị giảm sút.
Thứ hai, hạn chế về thủ tục hành chính và thời hạn xử lý.
Nghị định quy định thời hạn xử phạt là 1 năm kể từ ngày phát hiện vi phạm, nhưng trong thực tiễn, thủ tục thu thập chứng cứ phức tạp, đặc biệt với các hành vi gián tiếp như "thỏa thuận ngầm" qua email hoặc ứng dụng nhắn tin. Báo cáo thống kê rằng trung bình một vụ việc mất 6-9 tháng để hoàn tất, vượt quá thời hạn quy định ở 30% trường hợp. Lý do chính là thiếu quy định cụ thể về sử dụng công nghệ số trong điều tra, như phân tích dữ liệu lớn (big data) để phát hiện thỏa thuận giá cả trên nền tảng trực tuyến. Từ 2020-2025, số vụ liên quan đến kinh tế số tăng hơn gấp đôi (từ 10 lên 25 vụ)[3], nhưng cơ quan quản lý thiếu công cụ kỹ thuật, dẫn đến nhiều vụ bị "bỏ lọt" do chứng cứ kỹ thuật số bị xóa hoặc mã hóa.
Ngoài ra, Nghị định chưa đồng bộ với các văn bản pháp luật khác, như Luật An ninh mạng 2018, Luật Dữ liệu 2024 hay Nghị định 13/2023/NĐ-CP về bảo vệ dữ liệu cá nhân, gây khó khăn trong phối hợp.
Thứ ba, hạn chế về nguồn lực và nhận thức thực thi.
Mặc dù Cục Cạnh tranh đã tăng cường nhân sự, nhưng Báo cáo cho biết đội ngũ cán bộ còn mỏng, thiếu đào tạo chuyên sâu về cạnh tranh quốc tế. Điều này dẫn đến tình trạng xử lý chủ yếu tập trung ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, trong khi các tỉnh miền Trung và miền núi chỉ xử lý dưới 10% tổng vụ việc. Hơn nữa, nhận thức của doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh còn hạn chế; nhiều doanh nghiệp nhỏ không biết đến Nghị định 75, dẫn đến vi phạm vô ý nhưng vẫn bị phạt nặng.
Cuối cùng, hạn chế về cơ chế khiếu nại và giám sát.
Nghị định quy định quyền khiếu nại nhưng thủ tục phức tạp, thời hạn ngắn (trong 10 ngày), khiến nhiều doanh nghiệp bỏ qua. Từ 2019-2025, chỉ 5% quyết định xử phạt bị khiếu nại thành công, chủ yếu do lỗi thủ tục. Báo cáo của Bộ Công Thương cũng chỉ ra thiếu cơ chế giám sát độc lập, dẫn đến nguy cơ lạm quyền hoặc thiên vị trong xử lý.
Nhìn chung, việc thực thi Nghị định 75 trên thực tế còn nhiều hạn chế. Việc này khiến hiệu quả thực thi Nghị định 75 chưa đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra.

SPX Express bị xử phạt 200 triệu đồng. Nguồn: ZNews
Hướng khắc phục và đề xuất hoàn thiện Nghị định 75
Để cải thiện và hạn chế những điểm yếu của Nghị định 75, Chính phủ và các cơ quan có liên quan cần cải thiện triệt để khung pháp lý cũng như tăng cường hiệu quả của hoạt trên thực tế.
Thứ nhất, hoàn thiện nội dung quy định để tăng tính khả thi.
Cần sửa đổi Nghị định theo hướng chi tiết hóa các khái niệm cốt lõi, như bổ sung ngưỡng thị phần cụ thể như 25-30% cho vị trí thống lĩnh trong lĩnh vực số và quy định rõ hành vi vi phạm trong kinh tế số như thao túng dữ liệu, thuật toán ưu tiên. Về mức phạt, đề xuất tăng mức tối đa lên 15% doanh thu đối với vi phạm tái phạm hoặc liên quan đến an ninh kinh tế, đồng thời bổ sung hình thức phạt như cấm tham gia đấu thầu công hoặc buộc công bố thông tin vi phạm. Báo cáo gợi ý tham khảo kinh nghiệm quốc tế, như Luật Cạnh tranh EU (EU Competition Law) với cơ chế phạt tịch thu lợi nhuận, để áp dụng linh hoạt cơ chế này tại Việt Nam.
Thứ hai, đơn giản hóa thủ tục và tích hợp công nghệ.
Rút ngắn thời hạn xử lý xuống 6 tháng bằng cách bổ sung quy định sử dụng bằng chứng điện tử như email, dữ liệu đám mây và hợp tác với Bộ Thông tin và Truyền thông để truy xuất dữ liệu từ nền tảng số. Sự tham gia của chuyên gia công nghệ, chuyên gia trong lĩnh vực chuyên ngành là cần thiết nhằm xử lý nhanh các vụ việc trên các sàn thương mại điện tử, mạng xã hội,…. Đồng thời, đồng bộ hóa với Luật An ninh mạng bằng cách quy định nghĩa vụ cung cấp dữ liệu của doanh nghiệp nước ngoài, tránh tình trạng lẫn tránh tuân thủ do hoạt động máy chủ (trung tâm xử lý dữ liệu) được đặt ở nước ngoài.
Thứ ba, tăng cường nguồn lực và nâng cao nhận thức.
Trong bối cảnh hoạt động đầu tư, kinh doanh hết sức sôi nổi tại Việt Nam, với sự tham gia của cả doanh nghiệp trong và ngoài nước. Thị trường kinh doanh cạnh tranh hết sức gay gắt. Để đảm bảo sự công bằng và thị trường phát triển lành mạnh, đúng mong muốn kiến tạo môi trường kinh doanh an, toàn bền vững của Nhà nước, thì việc tăng cường đội ngũ quản lý trong lĩnh vực cạnh tranh, cụ thể thực thi pháp luật cạnh tranh là việc cần phải làm gấp. Ngoài việc tăng cường số lượng nhân sự, đội ngũ quản lý cạnh tranh cần phải có chuyên môn sâu về pháp luật và kinh doanh. Đồng thời phải được tập huấn, đào tạo bài bản từ các quốc gia phát triển để hỗ trợ cho sự phát triển của môi trường kinh doanh tại Việt Nam trong bối cảnh mới.
Thứ tư, cải thiện cơ chế khiếu nại và giám sát.
Mở rộng thời hạn khiếu nại lên 30 ngày, thành lập Hội đồng khiếu nại độc lập với đại diện doanh nghiệp và chuyên gia. Đồng thời, xây dựng hệ thống giám sát trực tuyến, nơi doanh nghiệp có thể báo cáo vi phạm ẩn danh, và công bố hàng quý báo cáo xử phạt để tăng tính minh bạch. Ngoài ra, việc xem xét để sửa đổi văn bản gốc (Luật Cạnh tranh 2018) trong lĩnh vực này là rất cần thiết để đồng bộ với hệ thống cơ quan nhà nước, và cách quản lý mới của các cơ quan có liên quan.
Chúng tôi cho rằng việc sửa đổi Nghị định 75 không chỉ khắc phục hạn chế ở hiện tại mà còn là nền tảng cho việc ra đời của Luật Cạnh tranh mới.
Nghị định 75/2019/NĐ-CP đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực cạnh tranh, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh. Tuy nhiên, các hạn chế về nội dung quy định, thủ tục thực thi, nguồn lực và giám sát đã làm giảm hiệu quả, đòi hỏi phải có những điều chỉnh kịp thời. Với cam kết hội nhập, Việt Nam cần thực thi mạnh mẽ các cam kết quốc tế về đầu tư, doanh nghiệp, cạnh tranh. Sửa đổi Nghị định 75 cũng là một trong những bước cần thiết trong quá trịnh thực hiện các cam kết này.
[1] https://vcc.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&category_id=e0904ba0-4694-4595-9f66-dc2df621842a&id=a0a20963-d194-47f1-8366-277436ed7aaa, truy cập ngày 09/09/2025.
[2] https://vcc.gov.vn/default.aspx?page=news&do=detail&category_id=e0904ba0-4694-4595-9f66-dc2df621842a&id=4f6a3cf5-7904-4b6f-8006-6bc17ccfda61, truy cập ngày 09/09/2025.
