Khi dữ liệu cá nhân (DLCN) trở thành một phần không thể tách rời của hoạt động kinh doanh, tranh chấp không chỉ phát sinh giữa doanh nghiệp và chủ thể dữ liệu mà còn xuất hiện giữa các bên tham gia xử lý dữ liệu. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 (Luật BVDLCN) đặt ra yêu cầu bảo vệ quyền của chủ thể dữ liệu, đồng thời cũng đặt ra vấn đề về cơ chế giải quyết các tranh chấp liên quan.

Theo đó, khi bên kiểm soát DLCN, bên kiểm soát và xử lý DLCN hoặc bên thứ ba có hành vi không bảo đảm hoặc xâm phạm các quyền này, tranh chấp giữa chủ thể DLCN và các bên liên quan có thể phát sinh.
Trọng tài thương mại có ưu điểm về tính linh hoạt, không công khai và hiệu lực chung thẩm, nhưng không phải mọi tranh chấp DLCN đều có thể được đưa ra trọng tài. Giới hạn cần làm rõ nằm ở bản chất quan hệ tranh chấp, hiệu lực thỏa thuận trọng tài và các nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu mang tính bắt buộc.
Tranh chấp DLCN trong kỷ nguyên số: Một nhu cầu giải quyết tranh chấp của thời đại
Hoạt động thu thập, lưu trữ, sử dụng và chuyển giao DLCN có thể phát sinh tranh chấp từ nhiều quan hệ pháp luật khác nhau. Để đánh giá khả năng giải quyết bằng trọng tài, cần phân biệt tranh chấp về quyền của chủ thể DLCN, tranh chấp bồi thường do sự cố dữ liệu, tranh chấp hợp đồng giữa các bên xử lý dữ liệu và tranh chấp liên quan đến quyết định quản lý nhà nước.
Thứ nhất, tranh chấp liên quan đến quyền của chủ thể DLCN. Chủ thể DLCN là người được DLCN phản ánh và là chủ thể có DLCN được thu thập, xử lý, chuyển giao. Pháp luật trao cho chủ thể DLCN các quyền nhất định nhằm bảo vệ lợi ích của mình đối với DLCN gồm: (i) được biết về hoạt động xử lý DLCN; (ii) đồng ý hoặc không đồng ý, yêu cầu rút lại sự đồng ý cho phép xử lý DLCN; (iii) xem, chỉnh sửa hoặc yêu cầu chỉnh sửa DLCN; (iv) yêu cầu cung cấp, xóa, hạn chế xử lý DLCN; gửi yêu cầu phản đối xử lý DLCN; (v) khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; và (vi) yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến xử lý DLCN thực hiện các biện pháp, giải pháp bảo vệ DLCN của mình theo quy định của pháp luật. Theo đó, khi bên kiểm soát DLCN, bên kiểm soát và xử lý DLCN hoặc bên thứ ba có hành vi không bảo đảm hoặc xâm phạm các quyền này, tranh chấp giữa chủ thể DLCN và các bên liên quan có thể phát sinh.
Thứ hai, tranh chấp liên quan đến sự cố về DLCN. Hoạt động xử lý DLCN luôn tiềm ẩn rủi ro xảy ra sự cố, dẫn đến việc DLCN bị rò rỉ, mất cắp hoặc bị truy cập, sử dụng trái phép. Những sự cố này có thể khiến chủ thể DLCN phải gánh chịu các thiệt hại như bị lừa đảo, bị sử dụng DLCN để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hoặc bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm và uy tín. Trong những trường hợp này, chủ thể DLCN có thể yêu cầu bên có trách nhiệm đối với sự cố thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật, từ đó làm phát sinh tranh chấp liên quan đến DLCN.
Thứ ba, tranh chấp liên quan đến các thỏa thuận, hợp đồng về xử lý DLCN được ký kết giữa các bên không phải là chủ thể DLCN. Pháp luật về DLCN cho phép các bên, bao gồm bên kiểm soát DLCN, bên xử lý DLCN và bên kiểm soát và xử lý DLCN, xác lập các thỏa thuận, hợp đồng liên quan đến hoạt động xử lý DLCN. Với bản chất là quan hệ hợp đồng, việc một bên vi phạm các nghĩa vụ đã thỏa thuận không phải là trường hợp hiếm gặp. Khi đó, mặc dù đối tượng trực tiếp của tranh chấp không nhất thiết là DLCN, tranh chấp vẫn phát sinh từ các thỏa thuận, hợp đồng có liên quan đến hoạt động xử lý DLCN.
Cuối cùng, tranh chấp hành chính liên quan đến DLCN giữa các bên và cơ quan quản lý nhà nước về DLCN. Đây là nhóm tranh chấp có tính chất đặc thù, liên quan đến việc thực hiện quyền lực quản lý nhà nước. Theo quy định pháp luật hiện hành, loại tranh chấp này không thuộc phạm vi giải quyết của trọng tài thương mại. Do đó, chúng tôi không đi sâu phân tích nhóm tranh chấp này.
Tiềm năng của trọng tài thương mại
Tòa án là cơ chế tài phán quan trọng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong tranh chấp DLCN. Tuy nhiên, đối với tranh chấp hợp đồng có yếu tố kỹ thuật và thông tin nhạy cảm, các bên cũng có thể cân nhắc cơ chế giải quyết ngoài Tòa án. Việc lựa chọn phương thức phù hợp phải xuất phát từ loại quyền được yêu cầu bảo vệ và khả năng định đoạt của các bên, thay vì chỉ dựa trên mong muốn giữ kín tranh chấp.
Trong các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (Alternative Dispute Resolution – ADR), trọng tài thương mại có ưu điểm là các bên có thể lựa chọn trọng tài viên có chuyên môn, ngôn ngữ, địa điểm và quy tắc tố tụng phù hợp. Phán quyết trọng tài có tính chung thẩm theo luật định. Dù vậy, tố tụng không công khai không đồng nghĩa với việc mọi tài liệu, DLCN và chứng cứ được bảo mật tuyệt đối; doanh nghiệp vẫn cần thiết kế biện pháp kiểm soát truy cập, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu trong quá trình giải quyết tranh chấp.
Giới hạn pháp lý: Không phải mọi tranh chấp DLCN đều có thể giải quyết bằng trọng tài
Khác với Tòa án, trọng tài thương mại chỉ có thể giải quyết tranh chấp khi đáp ứng những điều kiện nhất định. Cụ thể:
Điều kiện thứ nhất: Tranh chấp phải thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài. Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010 (Luật TTTM) quy định thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài gồm: (i) Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; (ii) Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại. (iii) Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng trọng tài.
Tuy nhiên, việc một bên có hoạt động thương mại không tự động khiến mọi bất đồng liên quan đến bên đó đều thích hợp để giải quyết bằng trọng tài. Cần xem xét bản chất quan hệ tranh chấp, yêu cầu cụ thể và các quy định chuyên ngành, đặc biệt khi tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân, người tiêu dùng hoặc quan hệ lao động.
Điều kiện thứ hai: Các bên phải có thỏa thuận trọng tài hợp lệ và bao quát toàn bộ tranh chấp. Theo Điều 5 Luật TTTM, thỏa thuận có thể được xác lập trước hoặc sau khi tranh chấp phát sinh. Ngoài sự tồn tại của thỏa thuận, cần kiểm tra hình thức, chủ thể ký kết, phạm vi và các trường hợp vô hiệu hoặc không thể thực hiện theo các Điều 16, 18 của Luật. Đối với người tiêu dùng, Điều 17 đặt ra cơ chế lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp khi điều khoản trọng tài được nhà cung cấp đưa vào điều kiện chung. Đặc biệt, sự đồng ý cho xử lý DLCN không đương nhiên là sự đồng ý giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.

Sự đồng ý cho xử lý DLCN không đương nhiên là sự đồng ý giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
Khả năng áp dụng trọng tài thương mại như một phương thức giải quyết tranh chấp dữ liệu cá nhân
Pháp luật về DLCN không đồng nghĩa với việc mọi tranh chấp liên quan đến DLCN đều bị loại trừ khỏi trọng tài. Tuy nhiên, cần phân biệt yêu cầu bồi thường hoặc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng với yêu cầu thực hiện quyền luật định của chủ thể DLCN. Thẩm quyền trọng tài phải được đánh giá đồng thời theo Điều 2 Luật TTTM, hiệu lực và phạm vi thỏa thuận trọng tài, bản chất yêu cầu và các quy định bắt buộc của pháp luật chuyên ngành. Trọng tài cũng không thay thế thẩm quyền xử lý vi phạm của cơ quan quản lý nhà nước.
Đối với tranh chấp giữa cá nhân và doanh nghiệp về quyền được biết, phản đối xử lý hoặc yêu cầu xóa DLCN, cần thận trọng khi suy luận thẩm quyền trọng tài chỉ từ việc doanh nghiệp có hoạt động thương mại. Trong quan hệ tuyển dụng, lao động hoặc tiêu dùng, các cơ chế bảo vệ đặc thù và tính hợp lệ của thỏa thuận trọng tài cần được xem xét riêng. Ngược lại, tranh chấp về phân bổ trách nhiệm, bồi hoàn chi phí và vi phạm nghĩa vụ bảo mật trong hợp đồng giữa các doanh nghiệp thường có cơ sở rõ ràng hơn để lựa chọn trọng tài, nếu đáp ứng các điều kiện luật định.
Ví dụ, doanh nghiệp A thuê doanh nghiệp B cung cấp dịch vụ lưu trữ và xử lý DLCN khách hàng. Hợp đồng quy định nghĩa vụ bảo mật, phân quyền truy cập, thông báo sự cố và bồi thường thiệt hại, đồng thời có điều khoản trọng tài hợp lệ. Sau một sự cố rò rỉ dữ liệu, A và B tranh chấp về nguyên nhân sự cố, mức độ vi phạm và chi phí khắc phục. Trọng tài có thể là cơ chế phù hợp để giải quyết các nghĩa vụ hợp đồng giữa A và B trong phạm vi thỏa thuận. Tuy nhiên, phán quyết giữa hai doanh nghiệp không đương nhiên ràng buộc chủ thể DLCN không tham gia thỏa thuận, cũng không loại trừ nghĩa vụ pháp lý của mỗi bên đối với chủ thể dữ liệu hoặc cơ quan có thẩm quyền.
Đối với hợp đồng xử lý DLCN giữa bên kiểm soát dữ liệu và bên xử lý dữ liệu, khả năng áp dụng trọng tài thường rõ nét hơn vì tranh chấp chủ yếu xoay quanh nghĩa vụ thương mại: bảo mật, an toàn hệ thống, thông báo sự cố, hỗ trợ đáp ứng yêu cầu của chủ thể dữ liệu và phân bổ thiệt hại. Tuy nhiên, thỏa thuận phân bổ rủi ro nội bộ không đương nhiên chuyển giao hoặc miễn trừ trách nhiệm mà pháp luật trực tiếp đặt ra đối với từng bên.
Khuyến nghị cho doanh nghiệp
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy trọng tài có thể là lựa chọn đáng cân nhắc đối với một số tranh chấp bảo vệ DLCN, nhất là tranh chấp hợp đồng có yếu tố xuyên biên giới. Tuy nhiên, không nên đồng nhất ưu điểm về tính không công khai và sự linh hoạt với khả năng giải quyết mọi quyền của chủ thể dữ liệu. Việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế tại Việt Nam phải đặt trong giới hạn thẩm quyền trọng tài và các quy định bảo vệ quyền của cá nhân.
Đặc thù của tranh chấp DLCN là chứng cứ thường tồn tại dưới dạng điện tử: nhật ký truy cập, lịch sử phân quyền, bản ghi xử lý, thông báo sự cố và dữ liệu hệ thống. Vấn đề cốt lõi không chỉ là hình thức tài liệu mà còn là tính toàn vẹn, nguồn gốc, khả năng xác thực và giá trị chứng minh của chứng cứ. Trọng tài có thể tạo điều kiện cho các bên thống nhất cách thức xuất trình, kiểm tra và đánh giá chứng cứ kỹ thuật; song không vì thế mà chứng cứ mặc nhiên được chấp nhận hoặc được miễn các yêu cầu pháp luật có liên quan. Các bên cần dự liệu cơ chế bảo toàn chứng cứ, hạn chế truy cập, che thông tin định danh và bảo vệ DLCN trong suốt quá trình tố tụng.
Với doanh nghiệp, lựa chọn trọng tài không nên chỉ dừng ở việc bổ sung điều khoản giải quyết tranh chấp vào hợp đồng xử lý DLCN. Điều khoản cần xác định rõ phạm vi tranh chấp, cơ chế bảo toàn và tiếp cận chứng cứ điện tử, nghĩa vụ bảo mật trong tố tụng, trách nhiệm thông báo sự cố, phân bổ chi phí khắc phục và bồi thường. Quan trọng hơn, thỏa thuận trọng tài chỉ điều chỉnh tranh chấp trong phạm vi pháp luật cho phép và không thể thay thế nghĩa vụ tuân thủ bắt buộc. Giá trị của trọng tài vì vậy không nằm ở khả năng giải quyết mọi tranh chấp DLCN, mà ở việc lựa chọn đúng những tranh chấp có thể được giải quyết hiệu quả trên cơ sở quyền tự định đoạt của các bên.
