Thực tiễn hiện nay cho thấy những hạn chế nhất định trong cơ chế quản lý, giám sát an toàn thực phẩm hiện hành, đặc biệt là việc kiểm soát từ khâu sản xuất, chế biến đến lưu thông trên thị trường. Những vụ việc gần đây về thực phẩm bẩn bị phát hiện đã đặt ra dấu hỏi lớn về trách nhiệm và hiệu quả quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm soát, giám sát an toàn thực phẩm.

Bổ sung dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) vào Chương trình lập pháp năm 2026. Nguồn: Báo Chính phủ
Dự thảo sửa đổi Luật An toàn thực phẩm (“Dự thảo sửa đổi”) đang trong quá trình được xây dựng và hoàn thiện nhằm khắc phục những bất cập của cơ chế quản lý hiện hành, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và ngăn chặn tình trạng thực phẩm không bảo đảm an toàn lưu thông trên thị trường tiêu dùng.
1. Làm rõ những “điểm mờ” trong hoạt động quản lý an toàn thực phẩm
Dự thảo sửa đổi lần này bổ sung, làm rõ định nghĩa đối với “chất hỗ trợ chế biến thực phẩm” và “phụ gia thực phẩm” tại khoản 14, 15 Điều 2. Đây là các chất được sử dụng nhằm hỗ trợ quá trình chế biến nguyên liệu thực phẩm nhưng không được sử dụng như một thành phần đặc trưng của thực phẩm, chẳng hạn như chất tạo màu, chất chống tạo bọt, gelatin dùng để hỗ trợ quá trình tạo đông, kết dính hoặc một vài chất khác. Tuy nhiên, các chất này thường xuyên được thêm vào trong quá trình chế biến để tạo ra thành phẩm cuối cùng. Vì thế, dư lượng vẫn có khả năng tồn tại trong sản phẩm cuối cùng, ảnh hưởng phần nào đến sức khỏe của người tiêu dùng.
Trên cơ sở đó, tại tiêu đề Chương III (điều kiện bảo đảm an toàn, chất lượng), Chương IV (cơ sở kinh doanh) và Chương V (nhập khẩu, xuất khẩu), cụm từ “thực phẩm” được thay thế bằng cụm từ có phạm vi điều chỉnh rộng hơn là “thực phẩm, nguyên liệu làm thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm”. Cách mở rộng phạm vi này góp phần khắc phục khoảng trống pháp lý trong quản lý các chất được sử dụng trong quá trình chế biến, tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro từ các chất phụ gia hỗ trợ khác, qua đó bảo đảm an toàn thực phẩm ở khâu thành phẩm cuối cùng.
2. Thay đổi cách thức quản lý thực phẩm dựa trên phân loại theo nhóm nguy cơ
Một trong những điểm mới nổi bật ở Dự thảo sửa đổi trong hoạt động quản lý là việc phân tích và quản lý theo nhóm nguy cơ. Trong đó, thực phẩm, nguyên liệu làm thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm được phân loại thành 03 nhóm nguy cơ, bao gồm:[1] (i) nguy cơ cao, (ii) nguy cơ trung bình, và (iii) nguy cơ thấp. Về nguyên tắc, tiêu chí xác định nhóm nguy cơ sẽ do Bộ Y tế quy định trên cơ sở đề xuất của các bộ, ngành có liên quan. Đồng thời, các cơ quản nhà nước khác như Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường có trách nhiệm tổ chức, thực hiện phân tích nguy cơ. Đối với nhóm có mức độ nguy cơ cao, cơ chế kiểm soát được áp dụng chặt chẽ hơn so với hai nhóm nguy cơ còn lại, thể hiện ở tần suất kiểm tra, phương pháp kiểm soát và các nội dung quản lý khác.
Cụ thể, tại khoản 1 Điều 17 Dự thảo sửa đổi, cơ sở sản xuất thực phẩm được đánh giá có nguy cơ cao cần phải đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe như thực hành tốt sản xuất thực phẩm, nguyên liệu làm thực phẩm (GMP), hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP), hệ thống an toàn thực phẩm ISO, tiêu chuân thực phẩm quốc tế (IFS), tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (IFS), tiêu chuẩn toàn cầu về an toàn thực phẩm (BRC), chứng nhận hệ thống an toàn thực phẩm (FSSC) hoặc tương đương. Bên cạnh đó, các cơ sở này phải đáp ứng được diện tích, địa điểm, khu vực sơ chế chế biến, và các yếu tố khác theo quy định hiện hành. Thêm vào đó, đối với cơ sở sản xuất thuộc nhóm nguy cơ cao, thủ tục cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm được áp dụng thay vì sử dụng cơ chế tự công bố đủ điều kiện đang áp dụng đối với cơ sở sản xuất nhỏ lẻ hoặc cơ sở thuộc nhóm nguy cơ thấp.[2] Thành phần hồ sơ, thủ tục cấp, gia hạn, thay đổi, bổ sung sẽ được hướng dẫn chi tiết theo quy định của Chính phủ trong thời gian tới sau khi Dự thảo sửa đổi được thông qua.
3. Kiểm soát chặt chẽ thực phẩm nhập khẩu
So với quy định hiện hành, Dự thảo sửa đổi tiếp tục áp dụng phương thức kiểm tra đối với thực phẩm theo từng mức độ:[3] kiểm tra chặt, kiểm tra thông thường, kiểm tra giảm. Ngoài việc kế thừa quy định cũ, nhiều kiến nghị mới cụ thể được đề xuất tăng cường giám sát các thực phẩm nhập khẩu đối với từng mức độ khác nhau.[4]
Thứ nhất, đối với phương thức kiểm tra chặt, chuyển từ hình thức lấy mẫu kiểm nghiệm nhưng chỉ kiểm tra các chỉ tiêu không đạt hoặc có cảnh báo của các cơ quan có thẩm quyền sang hình thức lấy mẫu kiểm nghiệm toàn bộ các chỉ tiêu theo hồ sơ công bố và các chỉ tiêu không đạt theo cảnh báo không đạt hoặc có cảnh báo của các cơ quan có thẩm quyền.
Thứ hai, đối với phương thức kiểm tra thông thường, thay đổi từ việc chỉ xem xét hồ sơ sang áp dụng đồng thời các biện pháp gồm kiểm tra hồ sơ, kiểm tra thực tế hàng hóa và lấy mẫu để kiểm nghiệm các chỉ tiêu về chất lượng, an toàn thực phẩm được lựa chọn từ các nhóm chỉ tiêu đã khai báo trong hồ sơ.
Thứ ba, đối với phương thức kiểm tra giảm, chuyển từ việc chỉ kiểm tra hồ sơ với tỷ lệ tối đa 5% tổng số lô hàng nhập khẩu trong thời hạn 01 năm sang thực hiện kiểm tra đầy đủ hồ sơ đối với 100% các mặt hàng nhập khẩu.
Cách đề xuất sửa đổi trên cho thấy xu hướng siết chặt công tác kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu góp phần tăng tính minh bạch, thống nhất trong áp dụng pháp luật. Đây là hướng tiếp cận cần thiết để đảm bảo sức khỏe, an toàn của người tiêu dung nhưng đồng thời làm gia tăng gánh nặng thủ tục hành chính và thời gian đưa sản phẩm nhập khẩu vào thị trường tiêu thụ đối với doanh nghiệp.

Siết chặt quản lý, bảo đảm an toàn thực phẩm. Nguồn: Báo Chính phủ
4. Quy định cụ thể hình thức nhãn bao bì
Nhãn bao bì được dán lên sản phẩm được xem là yêu cầu bắt buộc đối trước khi được lưu hành trên thị trường Việt Nam. Việc thực hiện ghi nhãn sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa. Ngoài ra trong phạm vi Dự thảo, quy định mới bổ sung yêu cầu cụ thể nhãn bao bì phải được in dưới dạng mã vạch (Barcode), mã QR, mã DataMatrix hoặc các hình thức khác trên cơ sở căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.[5]
Thông qua đó, cơ quan quản lý dễ dàng tiếp cận quản lý và truy xuất nguồn gốc thực phẩm, nguyên liệu làm thực phẩm khi có phát hiện sai phạm. Một số quy định hiện nay liên quan đến pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa đã khuyến khích cá nhân, doanh nghiệp triển khai ứng dụng mã số, mã vạch trong quản lý chất lượng, nguồn gốc.[6] Đây là tiền đề để cơ quan nhà nước từng bước xây dựng nền tảng số phục vụ quản lý hạ tầng chất lượng quốc gia, đồng thời tăng cường tính minh bạch và an toàn trong lưu thông, tiêu thụ hàng hóa, thực phẩm, qua đó góp phần bảo đảm an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Cùng với đó, bước bổ sung trên đồng bộ hóa với các quy định liên quan để đảm bảo thống nhất hệ thống pháp luật quản lý về chất lượng, an toàn và kiểm soát hàng giả.[7] Yêu cầu này của cơ quan quản lý là một chỉ dấu quan trọng của việc siết chặt hoạt động tuân thủ của doanh nghiệp trong việc sản xuất và lưu thông thực phẩm Việt Nam trong thời gian tới.
5. Tăng quyền cho chính quyền địa phương trong quản lý thực phẩm
Quản lý nhà nước trong vấn đề thực phẩm luôn là thách thức hiện hữu khi đứng trước sự phức tạp và đa dạng từ thực phẩm tươi sống tiêu dùng hằng ngày, thực phẩm được chế biến đóng hộp cho đến những thực phẩm chức năng, thực phẩm nhập khẩu. Thực tiễn cho thấy hệ thống quản lý vẫn còn “lẫn lộn” trách nhiệm khi xảy ra sự cố.[8] Cụ thể, việc phòng, chống thực phẩm giả, gian lận thương mại trong lưu thông, kinh doanh thực phẩm được giao cho Bộ Công Thương chủ trì mà không quy định việc phối hợp hoặc tham gia từ các bộ khác. Ngoài ra, việc phân chia quản lý dựa theo từng ngành và mặt hàng khác nhau, vì thế mỗi cơ quan đảm nhiệm sẽ có sự khác nhau và chưa có sự thống nhất, chịu trách nhiệm chính làm ảnh hưởng quyền lợi của người tiêu dùng. Đây là điểm vẫn đang được Chính phủ cân nhắc. Vì các quy định về trách nhiệm về quản lý nhà nước vẫn cần được xem xét thêm và thống nhất để tạo ra hiệu quả cao nhất trong quá trình triển khai trên thực tế. Một trong những phương án được đề xuất là phương án phân cấp trách nhiệm cho Ủy ban nhân cấp tỉnh trong việc thực hiện quyền quản lý an toàn thực phẩm tại địa phương, đồng thời phân quyền cụ thể đối với từng Bộ. Phạm vi công việc được phân quyền của từng Bộ đều phải gắn yêu cầu phối hợp với Bộ Y Tế để cơ quan này kịp thời nắm bắt thông tin, đưa ra phương án xử lý và báo cáo với Chính phủ.
Tóm lại, Dự thảo sửa đổi Luật ATTP cơ bản đã hoàn chỉnh ở một số vấn đề quan trọng như tiếp cận quản lý dựa trên phân loại nguy cơ, siết chặt kiểm soát thực phẩm nhập khẩu, tăng cường yêu cầu về truy xuất nguồn gốc thông qua nhãn bao bì, và hướng tới phân cấp, phân quyền rõ ràng hơn cho chính quyền địa phương. Tuy nhiên, không ít thách thức được đặt ra trong quá trình triển khai trong hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương kèm theo đó là việc phát sinh thêm các thủ tục hành chính cần thiết đối với doanh nghiệp. Do đó, trong thời gian tới, Dự thảo sửa đổi sẽ cần được tiếp tục rà soát và hoàn thiện trên cơ sở góp ý, đánh giá của các chuyên gia, cơ quan chuyên môn nhằm đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng và yêu cầu kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch cho doanh nghiệp.
Luật sư Nguyễn Văn Phúc - Nguyễn Việt Hùng
Công ty Luật TNHH HM&P
[1] Điều 32 Dự thảo Luật An toàn thực phẩm. Xem thêm tại: https://moh.gov.vn/tuyen-truyen-huong-dan-thuc-hien-phap-luat-noi-chung/-/asset_publisher/tDscDpO1RiBD/content/du-thao-luat-an-toan-thuc-pham-sua-oi-, truy cập ngày 09/02/2026.
[2] Khoản 2 Điều 18, Điều 19 Dự thảo Luật An toàn thực phẩm.
[3] Điều 23 Dự thảo Luật An toàn thực phẩm
[4] Tờ trình Chính sách của Luật an toàn thực phẩm (sửa đổi) tr.16-17.
[5] Khoản 3 Điều 27 Dự thảo Luật An toàn thực phẩm
[6] Nghị định 37/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
[7] Tờ trình Chính sách của Luật an toàn thực phẩm (sửa đổi), tr.3-4.
[8] Tờ trình Chính sách của Luật an toàn thực phẩm (sửa đổi) tr.6.
