Doanh nghiệp vẫn đang chờ gỡ bỏ thủ tục cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm

Tài nguyên
Doanh nghiệp vẫn đang chờ gỡ bỏ thủ tục cấp giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm
Ngày đăng: 14/07/2023

    Ngày 04/10/2021, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 1661/QĐ-TTg phê duyệt phương án cắt giảm, đơn giản hóa quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Y tế, trong đó, nổi bật là thủ tục cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm cho doanh nghiệp. Theo đó, thủ tục cấp và cấp lại Giấy xác nhận nội dung quảng cáo sẽ được bãi bỏ theo lộ trình từ năm 2022 đến năm 2025. Trong bài viết này, HM&P sẽ chỉ ra một số điểm bất cập mà doanh nghiệp gặp phải trong quá trình thực hiện thủ tục này, làm tiền đề cho quyết định gỡ bỏ của cơ quan Nhà nước, cũng như cung cấp cập nhật thực tế liên quan đến lộ trình gỡ bỏ thủ tục này.

    1. Quy định hiện tại về thủ tục cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm

    Theo quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 20 Luật Quảng cáo 2012, điều kiện để quảng cáo mỹ phẩm là phải có phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm theo quy định của pháp luật về y tế. Tuy nhiên, sau khi Nghị định 181/2013/NĐ-CP[1] có hiệu lực vào ngày 01/01/2014, Nghị định này yêu cầu việc quảng cáo đối với loại sản phẩm, hàng hóa đặc biệt là mỹ phẩm chỉ được thực hiện sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận nội dung quảng cáo[2]. Đồng thời, Nghị định này còn quy định cụ thể về nội dung quảng cáo mỹ phẩm buộc doanh nghiệp phải tuân thủ[3].

    Tiếp đó, ngày 25/5/2015, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 09/2015/TT-BYT, quy định về xác nhận nội dung quảng cáo đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đặc biệt thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Y tế (“Thông tư 05/2019/TT-BYT”). Theo đó, để được cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm, doanh nghiệp phải nộp hồ sơ đến Sở Y tế nơi đặt trụ sở chính của cơ sở có tên trên phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm hoặc Sở Y tế nơi dự kiến tổ chức hội nghị, hội thảo, sự kiện trường hợp quảng cáo mỹ phẩm thông qua hội nghị, hội thảo, tổ chức sự kiện[4].

    2. Rào cản dành cho doanh nghiệp

    Quảng cáo là hoạt động nhằm mục đích giới thiệu sản phẩm, hàng hóa mà doanh nghiệp đang kinh doanh đến công chúng, từ đó gia tăng doanh số bán hàng đối với sản phẩm, hàng hóa đó. Quảng cáo mỹ phẩm cũng nhằm mục đích đó. Tuy nhiên, quy định buộc doanh nghiệp chỉ được thực hiện quảng cáo mỹ phẩm sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận nội dung quảng cáo có thể khiến hoạt động quảng cáo của doanh nghiệp không thực hiện được đúng như mong muốn ban đầu của doanh nghiệp. Mỹ phẩm được xem là mặt hàng tiêu dùng nhanh và đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn thay đổi, nhằm đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 20 Thông tư 05/2019/TT-BYT, thời hạn để cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo dấu tiếp nhận công văn đến của cơ quan tiếp nhận hồ sơ. Tuy nhiên, đây là trường hợp doanh nghiệp nộp đủ hồ sơ và được đồng ý xác nhận nội dung quảng cáo. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ, thời hạn sửa đổi, bổ sung hồ sơ sẽ kéo dài thêm. Do đó, nếu trường hợp một sản phẩm của doanh nghiệp bị từ chối hoặc kéo dài thời gian cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm, doanh nghiệp sẽ tiêu tốn khá nhiều thời gian cho việc quảng cáo mỹ phẩm, đánh mất cơ hội và lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác trên thị trường. Chưa kể, việc giữ thủ tục cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm còn kéo theo nhiều thủ tục khác, gây phiền hà cho doanh nghiệp, như thủ tục cấp lại Giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm khi có thay đổi về tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm và không thay đổi nội dung quảng cáo hoặc trường hợp Giấy xác nhận hết hiệu lực hoặc bị mất hoặc hư hỏng.

    Đồng thời, khi nộp hồ sơ xác nhận nội dung quảng cáo, doanh nghiệp phải trả mức phí là 1.800.000 đồng cho mỗi hồ sơ, mức phí này có thể không lớn nếu xét trên một bộ hồ sơ, tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, một doanh nghiệp có thể phải thực hiện quảng cáo đối với rất nhiều sản phẩm khác nhau, do đó mức phí này phần nào đó làm tăng đáng kể chi phí hoạt động của doanh nghiệp.

    Một lý do khác mà chúng tôi cho rằng là điều kiện tiên quyết để cơ quan Nhà nước quyết định gỡ bỏ thủ tục này đến từ hiệu quả của chính thủ tục này đối với hoạt động quảng cáo mỹ phẩm.

    Trên thực tế việc xác nhận nội dung quảng cáo không mang nhiều ý nghĩa về mặt kiểm soát hoạt động quảng cáo mỹ phẩm. Tại thủ tục này, cơ quan Nhà nước sẽ xem xét tính phù hợp giữa nội dung mà doanh nghiệp dự kiến quảng cáo với các giấy tờ trong hồ sơ đăng ký mỹ phẩm, đơn cử như phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp. Thủ tục này không thể kiểm soát được toàn bộ quá trình quảng cáo của doanh nghiệp, không thể bảo đảm doanh nghiệp thực hiện theo đúng nội dung đã được xác nhận bởi cơ quan Nhà nước. Do đó, vô hình trung khiến thủ tục này không chỉ là một rào cản đối với các doanh nghiệp mà còn không tạo cho các cơ quan Nhà nước một công cụ thực sự hữu hiệu để quản lý hoạt động quảng cáo mỹ phẩm. Ngoài ra, so với các sản phẩm, hàng hóa thuộc diện đặc biệt khác theo quy định của Nghị định 181/2013/NĐ-CP, mỹ phẩm có thể được xem là ngành hàng có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng thấp hơn so với thuốc hoặc thực phẩm. Do đó, việc gỡ bỏ quy định xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm, thay vào đó, tăng cường hoạt động thanh, kiểm tra, tăng mức xử phạt sau quảng cáo có thể là giải pháp hữu hiệu mà cơ quan Nhà nước cần hướng đến trong thời gian tới để bảo đảm quyền được sử dụng các sản phẩm an toàn, chất lượng của người tiêu dùng trong lĩnh vực mỹ phẩm.

    Tóm lại, việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1661/QĐ-TTg để gỡ bỏ thủ tục cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm có thể giúp tháo dỡ các rào cản mà doanh nghiệp gặp phải, nâng cao ý thức của doanh nghiệp, cũng như tăng cường tính chủ động, quyết liệt của cơ quan quản lý Nhà nước trong công tác quản lý đối với hoạt động quảng cáo mỹ phẩm.

    3. Lộ trình gỡ bỏ trên thực tế

    Quyết định 1661/QĐ-TTg được ban hành và có hiệu lực từ ngày 04/10/2021, trong đó nêu rõ lộ trình gỡ bỏ thủ tục cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo được thực hiện từ năm 2022 đến năm 2025 với kiến nghị sửa đổi Nghị định 181/2013/NĐ-CP và Thông tư 09/2015/TT-BYT.

    Thông tư 09/2015/TT-BYT được ban hành dựa trên quy định về xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm tại Điều 12 Nghị định 181/2013/NĐ-CP, do đó, trước hết cần có sự sửa đổi đối với Nghị định 181/2013/NĐ-CP.

    Theo quy định tại Khoản 2 Điều 84 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015, sửa đổi, bổ sung 2020 thì bộ, cơ quan ngang bộ tự mình hoặc theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân chuẩn bị đề nghị xây dựng nghị định thuộc phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Đồng thời, theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Luật Quảng cáo 2012, Khoản 1 Điều 26 Nghị định 181/2013/NĐ-CP thì Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan phụ trách quản lý Nhà nước về hoạt động quảng cáo. Do đó, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có trách nhiệm chủ trì trong việc soạn thảo, xây dựng Nghị định sửa đổi Nghị định 181/2013/NĐ-CP.

    Tuy nhiên, hiện nay, qua rà soát thông tin, chúng tôi chưa tìm thấy bất kỳ thông tin nào liên quan đến dự thảo về Nghị định sửa đổi Nghị định 181/2013/NĐ-CP liên quan đến việc sửa đổi quy định xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm. Đồng thời, theo nội dung Công văn số 1119/QLD-MP ngày 26/9/2022 của Cục Quản lý dược thuộc Bộ Y tế thì cơ quan này cũng chỉ nêu trách nhiệm trong việc chủ trì soạn thảo Nghị định sửa đổi Nghị định 181/2013/NĐ-CP thuộc về Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mà không đề cập thêm thông tin nào khác về lộ trình sửa đổi Nghị định 181/2013/NĐ-CP và Thông tư 09/2015/TT-BYT.

    Có thể thấy, mặc dù bước đầu đã có quyết định phê duyệt phương án cắt giảm thủ tục cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm của Thủ tướng Chính phủ, tuy nhiên, trong khi chưa có các quy định pháp luật cụ thể để gỡ bỏ thủ tục cấp Giấy xác nhận nội dung quảng cáo mỹ phẩm, doanh nghiệp lưu ý vẫn phải thực hiện thủ tục này trên thực tế để tránh các rủi ro pháp lý trong quá trình thực hiện hoạt động quảng cáo tại doanh nghiệp của mình.


     

    [1] Nghị định 181/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo (“Nghị định 181/2013/NĐ-CP”).

     

    [2] Khoản 1 Điều 12 Nghị định 181/2013/NĐ-CP.

     

    [3] Điều 4 Nghị định 181/2013/NĐ-CP.

     

    [4] Điểm a Khoản 2 Điều 12 Thông tư 09/2015/TT-BYT.