Các vi phạm công bố thông tin thường gặp của doanh nghiệp khi phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ

Tài nguyên
Các vi phạm công bố thông tin thường gặp của doanh nghiệp khi phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ
Ngày đăng: 03/04/2026

    Phát hành trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ (TPDN riêng lẻ) là kênh huy động vốn quan trọng nhưng nhạy cảm với rủi ro “bất cân xứng thông tin” khi đơn vị phát hành biết rõ hơn nhà đầu tư về sức khỏe tài chính, mục đích sử dụng vốn, tài sản bảo đảm và khả năng trả nợ. Khi nghĩa vụ công bố thông tin (CBTT) bị thực hiện hình thức, chậm, thiếu hoặc sai, thị trường dễ rơi vào định giá rủi ro không đúng, phân bổ vốn sai và gây nên tâm lý thiếu niềm tin của nhà đầu tư.

     

    Nghĩa vụ CBTT của doanh nghiệp cũng tăng dần về mức độ chuẩn hóa, tần suất, kênh công bố và trách nhiệm giải trình.

     

    Trong bài viết, chúng tôi sẽ chỉ ra các dạng vi phạm CBTT phổ biến, lý do của các vi phạm và  đồng thời đề xuất các giải pháp để doanh nghiệp xem xét áp dụng cho đơn vị mình.

    Khung pháp lý về công bố thông tin TPDN riêng lẻ

    Khung pháp lý về phát hành TPDN tại Việt Nam thay đổi và tốt dần theo các giai đoạn. Theo đó, nghĩa vụ CBTT của doanh nghiệp cũng tăng dần về mức độ chuẩn hóa, tần suất, kênh công bố và trách nhiệm giải trình.

    Một điểm mốc quan trọng là từ 01/01/2021, tại Việt Nam Luật Chứng khoán 2019 và Luật Doanh nghiệp 2020 có hiệu lực cùng thời điểm. Việc này góp phần định hình lại đối tượng nhà đầu tư, chuẩn hóa điều kiện phát hành và đặt nền tảng cho cơ chế CBTT chuyên biệt đối với TPDN riêng lẻ. Nhìn thị trường TPDN Việt Nam trong thời gian qua có thể nhận thấy các giai đoạn sau:

    Giai đoạn xây nền (2011–2020): Nghị định 90/2011/NĐ‑CP và Nghị định 163/2018/NĐ‑CP quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp, tạo khung điều kiện và nguyên tắc phát hành theo thời kỳ. 

    Giai đoạn chuẩn hóa kênh CBTT (từ 2021): Nghị định 153/2020/NĐ‑CP (hiệu lực 01/01/2021) đặt ra cơ chế CBTT cho TPDN riêng lẻ và cơ chế “chuyên trang”/chế độ báo cáo đối với doanh nghiệp. 

    Giai đoạn siết minh bạch và trách nhiệm sử dụng vốn (năm 2022): Nghị định 65/2022/NĐ‑CP sửa đổi Nghị định 153, nhấn mạnh doanh nghiệp phải nêu cụ thể mục đích phát hành trong phương án phát hành và công bố thông tin cho nhà đầu tư, đồng thời yêu cầu sử dụng vốn đúng mục đích theo phương án/CBTT.  

    Giai đoạn điều chỉnh để giảm áp lực đáo hạn (năm 2023): Nghị định 08/2023/NĐ‑CP có nội dung sửa đổi/bổ sung một số quy định của chuỗi nghị định trái phiếu và vẫn yêu cầu doanh nghiệp phát hành CBTT bất thường trong một số cơ chế thanh toán/đàm phán với trái chủ bằng tài sản khác. 

    Nhóm vi phạm CBTT phổ biến

    Bảng dưới đây phân loại các dạng vi phạm CBTT phổ biến của các doanh nghiệp trong quá trình phát hành TPDB riêng lẻ cho nhà đầu tư. Vi phạm khá đa dạng ở chi tiết hành vi nhưng đã được chúng tôi phân loại và sắp xếp cụ thể như bảng dưới đây.

    STT

    Loại vi phạm CBTT

    Chi tiết vi phạm

    Ảnh hưởng quyền lợi nhà đầu tư

    1

    Phương án phát hành thiếu/công bố mục đích không cụ thể

    Mục đích phát hành viết chung chung, không nêu chương trình/dự án/tiến độ; thiếu chỉ tiêu tài chính; mâu thuẫn thông tin TSBĐ

    Nhà đầu tư không định vị được mục đích cuối cùng của dòng tiền, khó định giá rủi ro dự án và rủi ro trong quản lý dòng vốn của đơn vị phát hành

    2

    CBTT trước phát hành không đúng mẫu/thiếu nội dung bắt buộc

    Thiếu thông tin về thời gian, tiến độ giải ngân; điều kiện trái phiếu; mô tả TSBĐ; thiếu tài liệu kèm theo

    Quyết định mua dựa trên “bản chào” thiếu dữ kiện làm tăng rủi ro mua phải trái phiếu không phù hợp khẩu vị và mức độ chịu rủi ro của nhà đầu tư

    3

    CBTT không đúng thời hạn/không công bố thông tin phải công bố

    Chậm công bố; không gửi/không đăng tải thông tin; thiếu CBTT định kỳ/bất thường

    Nhà đầu tư không được cập nhật kịp thời diễn biến rủi ro; làm tăng tổn thất khi rủi ro đã phát sinh

    4

    Nội dung CBTT không chính xác/không đầy đủ

    Sai lệch dữ liệu, thiếu phần quan trọng; diễn đạt gây hiểu lầm về mục đích, dòng tiền, hoặc nghĩa vụ

    Định giá sai khả năng trả nợ; sai lệch đánh giá tài sản và điều khoản

    5

    CBTT/giải trình về sử dụng vốn không đủ bằng chứng

    Không chứng minh được sử dụng đúng mục đích theo phương án; “ủy quyền” cho đối tác sử dụng tiền; dòng tiền chuyển qua trung gian

    Rủi ro đạo đức cao: vốn huy động có thể phục vụ mục tiêu ngoài cam kết; tăng xác suất đổ vỡ trả nợ

    6

    CBTT bất thường khi thay đổi điều khoản/đàm phán trái chủ không đầy đủ

    Không công bố kịp thời khi thay đổi điều kiện điều khoản, gia hạn, hoán đổi, hoặc thanh toán bằng tài sản khác

    Nhà đầu tư không nhận được thông tin kịp thời để quyết định chấp thuận/thực thi quyền

    Vì sao vi phạm CBTT lặp lại?

    Có ba nhóm nguyên nhân thường thấy đối với các vi phạm của doanh nghiệp trong việc tuân thủ CBTT khi phát hành TPDN riêng lẻ.

    Thứ nhất, từ độ trễ giữa khung pháp lý và thực tiễn thị trường

    Thị trường TPDN riêng lẻ tăng nóng trong giai đoạn trước và ngay sau 2021, trong khi khung CBTT và hạ tầng đang trong quá trình hoàn thiện. Việc Nghị định 65 sửa đổi, bổ sung mạnh các yêu cầu về mục đích phát hành, trách nhiệm sử dụng vốn đúng mục đích và CBTT bất thường phản ánh nhu cầu “vá” các điểm yếu đã lộ diện từ những lỗ hỏng do khung pháp lý còn “yếu” và thiếu. 

    Thứ hai, việc quản trị doanh nghiệp và kiểm soát nội bộ yếu

    CBTT chuẩn mực và đúng quy định không chỉ là phát hành, công bố tài liệu thông thường mà là hệ thống kiểm soát: dữ liệu tài chính, thông tin dự án, TSBĐ, điều khoản trái phiếu… phải được hội đồng/quản lý phê duyệt, lưu vết và cập nhật. Nhiều trường hợp phương án phát hành/CBTT thiếu hoặc không đúng, cho thấy khả năng tồn tại lỗ hổng trong quy trình phê duyệt, soạn thảo và áp dụng các quy định pháp lý tại doanh nghiệp.

    Thứ ba, động cơ và cấu trúc giao dịch tiềm ẩn nhiều rủi ro

    Khi mục tiêu là huy động nguồn vốn nhanh với chi phí thấp, doanh nghiệp có thể có động cơ “tối giản hóa” thông tin bất lợi hoặc làm mờ mục đích sử dụng vốn bằng cấu trúc hợp đồng/hợp tác nhiều tầng. Nhiều vi phạm của doanh nghiệp gần đây cho thấy dấu hiệu dòng tiền đi qua trung gian và khó xác minh mục đích cuối cùng trong một số đơn vị phát hành, cho thấy rủi ro không đơn thuần là lỗi hành chính mà có thể chạm tới bản chất thực sự của giao dịch “ẩn” phía sau các thông tin được công bố.

     

    Nguồn: Đầu tư Chứng khoán

     

    Hệ quả của những hành vi vi phạm của doanh nghiệp

    Hệ quả của vi phạm CBTT có thể nhìn ở các khía cạnh sau đây:

    Thiệt hại cho nhà đầu tư 

    Khi CBTT trước phát hành thiếu thông tin về mục đích/tiến độ giải ngân/TSBĐ, nhà đầu tư định giá rủi ro dựa trên dữ liệu bị thiếu/sai lệch. Khi CBTT định kỳ/bất thường chậm hoặc không thực hiện, nhà đầu tư mất khả năng rút lui sớm. Điều này đặc biệt nghiêm trọng với TPDN riêng lẻ vốn hướng tới nhà đầu tư chuyên nghiệp nhưng thực tế vẫn có thể bị phân phối qua nhiều lớp trung gian khác nhau và tới “tay” các nhà đầu tư nhỏ, lẻ thiếu hụt thông tin, kinh nghiệm thị trường. Điều này đã được minh chứng qua thực tế phát hành của nhiều doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời gian qua, điển hình là vụ việc phát hành TPDN riêng lẻ trong nhóm các doanh nghiệp thuộc “hệ sinh thái” Vạn Thịnh Phát.

    Ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường trái phiếu

    Khi thông tin bị sai lệch, các doanh nghiệp sẽ bị xử lý vi phạm hành chính và thậm chí xử lý vi phạm hình sự tùy thuộc vào mức độ của hành vi. Tuy nhiên, dù bị xử phạt theo cách thức nào thì bất kỳ vi phạm nào của doanh nghiệp cũng đều ảnh hưởng đến tâm lý của chủ đầu tư, và xa hơn là tâm lý chung của xã hội về một thị trường trái phiếu minh bạch, hiệu quả, mang lại lợi ích không chỉ cho nhà đầu tư và cả doanh nghiệp, xã hội.

    Rủi ro hệ thống khi dữ liệu bị sai lệch

    Các cơ chế giám sát thị trường của cơ quan quản lý phụ thuộc rất mạnh vào chất lượng dữ liệu doanh nghiệp cung cấp.  Khi dữ liệu sai/thiếu/chậm, giám sát của Nhà nước buộc phải chuyển từ phương thức quản lý “phòng ngừa” sang “đấu tranh”, và chi phí để huy động vốn toàn thị trường tăng lên vì các bên liên quan từ Nhà nước, nhà đầu tư đều “khắc khe” hơn trong phương thức thẩm định doanh nghiệp và lượng TPDN phát hành ra thị trường. Lúc này, chi phí để doanh nghiệp phát hành không còn “rẻ” như trước đây.

    Để thị trường TPDN riêng lẻ lấy vị thế đã có

    Cấp độ cơ quan quản lý

    Một là, tiếp tục “chuẩn hóa dữ liệu CBTT theo cấu trúc”, thay vì CBTT dạng PDF tự do thì nên xem xét yêu cầu mục đích phát hành phải gắn mã chương trình/dự án, mốc giải ngân, bên thụ hưởng, và trạng thái sử dụng vốn; điều này giúp giám sát tự động phát hiện các CBTT “lệch chuẩn” trong hoạt động phát hành TPDN riêng lẻ.

    Hai là, gắn chế tài theo mức độ ảnh hượng và gây thiệt hại của vi phạm CBTT. Ví dụ như cùng là “thiếu”, nhưng thiếu mốc công bố định kỳ khác về mức độ nguy hiểm so với sai lệch thông tin về TSBĐ, mục đích phát hành, hoặc khả năng trả nợ. Nghị định 65 và Nghị định 08 cho thấy xu hướng yêu cầu CBTT bất thường khi thay đổi điều kiện điều khoản và trong các cơ chế thanh toán/đàm phán với trái chủ. Theo chúng tôi đây là một hướng tiếp cận đúng nhưng cần tăng khả năng, hiệu quả thực thi. 

    Ba là, các cơ quan quản lý cần liên thông dữ liệu CBTT. Từ dữ liệu của hoạt động đăng ký giao dịch bảo đảm cho đến dữ liệu doanh nghiệp, dữ liệu dự án địa phương phải được liên thông và kết nối với nhau. Khi liên thông và kết nối tốt, sẽ buộc chi phí “làm mờ thông tin” của doanh nghiệp tăng lên có thể dẫn đến động cơ vi phạm giảm.

    Từ phía doanh nghiệp phát hành

    Doanh nghiệp phát hành nên thiết lập cơ chế “3 lớp kiểm soát CBTT”: (i) đơn vị nghiệp vụ cung cấp dữ liệu; (ii) pháp chế/tuân thủ đối chiếu quy định và mẫu biểu; (iii) kiểm toán nội bộ hoặc ban kiểm soát/ủy ban rủi ro xác nhận tính nhất quán giữa phương án phát hành, hợp đồng, dòng tiền và báo cáo định kỳ trước khi phát hành các thông tin ra bên ngoài. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần phải tách bạch quản trị dòng tiền trái phiếu bằng tài khoản/tiểu khoản riêng để CBTT về sử dụng vốn có bằng chứng ngân hàng rõ ràng. Khuyến nghị này phù hợp với tinh thần “sử dụng vốn đúng mục đích đã công bố” và giảm rủi ro không chứng minh được khi doanh nghiệp bị thanh tra/kiểm toán. 

    Nhìn chung, các vi phạm CBTT trong phát hành TPDN riêng lẻ không phải là “lỗi thủ tục” đơn thuần mà đó là điểm khởi phát của bất cân xứng thông tin, làm sai lệch định giá rủi ro và có thể dẫn tới đổ vỡ niềm tin thị trường. Các quyết định gần đây của các cơ quản quản lý cho thấy vi phạm CBTT xuất hiện với tỉ lệ rất cao ở nhiều nhóm TCPH, đồng thời tồn tại rủi ro đối với hoạt động này trong thực tiễn. Doanh nghiệp không chỉ nên xem CBTT trong phát hành TPDN riêng lẻ là nghĩa vụ mà nên quản trị và thực hiện các yêu cầu này một cách nghiêm túc để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh uy tín và bền vững của chính đơn vị phát hành.