Với một số sự khác biệt về nguồn vốn và hoạt động đầu tư của mình, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tồn tại một số quy định đặc biệt hơn so với những doanh nghiệp không có vốn nước ngoài khác (“doanh nghiệp nội địa”). Một trong số những khác biệt giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nội địa đến từ các yêu cầu liên quan đến báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp. Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến một số điểm lưu ý đặc biệt đối với báo cáo tài chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
1. Về yêu cầu kiểm toán độc lập

Không giống như những doanh nghiệp nội địa, khi mà báo cáo tài chính của những doanh nghiệp này không bắt buộc phải được kiểm toán độc lập. Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 37 Luật Kiểm toán độc lập 2011, báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bắt buộc phải được doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm toán. Nội dung này cũng được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 15 Nghị định 17/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật kiểm toán độc lập.
Như vậy, sau khi được lập và thông qua trong nội bộ doanh nghiệp, doanh nghiệp cần thuê đơn vị kiểm toán để tiến hành kiểm toán đối với báo cáo tài chính của mình.
Trên thực tế, đây là một trong những điều kiện tiên quyết mà doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải thực hiện khi nộp báo cáo tài chính cho cơ quan có thẩm quyền.
Ngoài ra, trường hợp không thực hiện kiểm toán đối với báo cáo tài chính năm, doanh nghiệp có vốn đầu tư có thể chịu rủi ro từ việc bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, theo quy định tại Khoản 3 Điều 53 Nghị định 41/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán độc lập.
2. Cơ quan tiếp nhận báo cáo tài chính
Theo quy định tại Điều 110 Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp, báo cáo tài chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải được nộp đến cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơ quan thống kê, doanh nghiệp cấp trên và cơ quan đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, nếu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có trụ sở nằm trong khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao còn phải nộp Báo cáo tài chính năm cho Ban quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao nếu được yêu cầu.

Điểm khác biệt về cơ quan tiếp nhận báo cáo tài chính giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp nội địa là việc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài còn phải nộp báo cáo tài chính cho cơ quan tài chính. Cơ quan tài chính mà doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải nộp báo cáo tài chính là Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi doanh nghiệp đăng ký trụ sở kinh doanh chính.
Ngoài ra, cần lưu ý rằng cơ quan thuế tiếp nhận báo cáo tài chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có sự khác biệt. Theo đó, các doanh nghiệp phải gửi báo cáo tài chính cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý thuế tại địa phương. Trong khi đó, theo quy định tại Điểm a.2 Khoản 2 Điều 3 Thông tư 127/2015/TT-BTC hướng dẫn việc cấp mã số doanh nghiệp thành lập mới và phân công cơ quan thuế quản lý đối với doanh nghiệp thì cơ quan quản lý thuế trực tiếp đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là Cục thuế nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, khác với Chi cục thuế đối với trường hợp doanh nghiệp nội địa.
Về thời hạn nộp báo cáo tài chính, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần tuân thủ quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 109 Thông tư 200/2014/TT-BTC, cụ thể là phải nộp báo cáo tài chính năm cho cơ quan có thẩm quyền chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chậm nộp báo cáo tài chính cho các cơ quan có thẩm quyền, doanh nghiệp có thể bị xử phạt từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng cho trường hợp chậm nộp dưới 03 tháng và từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng cho trường hợp chậm nộp từ 03 tháng trở lên, theo quy định tại Điểm a Khoản 1, Điểm c Khoản 2 Điều 12 Nghị định 41/2018/NĐ-CP. Trong khi đó, nếu không nộp báo cáo tài chính và bị phát hiện, doanh nghiệp có thể bị xử phạt từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng theo quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều 12 Nghị định 41/2018/NĐ-CP.
